Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề. Trong hệ thống tổ chức của các trường phổ thông, đơn vị cơ bản được tổ chức các hoạt động giáo dục là lớp học. Mô hình lớp học được duy trì và ngày càng phát triển mạnh mẽ ở khắp các nước trên thế giới.
Một lớp học cần phải có người quản lý. Để quản lý lớp học, nhà trường cử ra một trong những giáo viên đang giảng dạy làm chủ nhiệm lớp. GVCN được HT nhà trường lựa chọn từ những giáo viên ưu tú có kinh nghiệm giáo dục, có uy tín trong học sinh, được hội đồng nhà trường nhất trí phân công chủ nhiệm lớp để thực hiện mục tiêu giáo dục. Như vậy, khi nói đến GVCNL là nói đến quản lý và tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh của một lớp.
Khi đề cập đến công tác CNL, có nhiều tài liệu, luận văn đã nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, có thể kể đến các tác phẩm, công trình tiêu biểu như: Trong tác phẩm “Phương pháp công tác chủ nhiệm lớp” (NXB Giáo dục Matxcơva,1984), Bôn - đư - rép N. đã trình bày những phương pháp cơ bản về cách thức thực hiện công tác chủ nhiệm lớp ở các trường phổ thông [12]. Quan điểm của UNESCO cho rằng: GD trung học là giai đoạn mà thế hệ trẻ lựa chọn cho mình những giá trị cần thiết cho cuộc sống cũng như con đường chuẩn bị bước vào hoạt động nghề nghiệp và cuộc sống sau này. Từ định hướng đó, các nước phát triển đã xây dựng những mục tiêu giáo dục cho học sinh trung học có liên quan đến công tác CNL.
Trong đó có giáo dục kĩ năng sống, giáo dục những giá trị sống, giáo dục nghề nghiệp,… Nghiên cứu về công tác của GVCN đã có một số công trình nghiên cứu như: “Công tác GVCN ở trường phổ thông” của Hà Nhật Thăng, Nguyễn Dục 8 Quang, Nguyễn Thị Kỷ [28]; “Những tình huống giáo dục học sinh của người giáo viên chủ nhiệm” của Hà Nhật Thăng (chủ biên) [29]; “Giáo dục học” (Chương XVI. Người giáo viên chủ nhiệm) của Phạm Viết Vượng [33]; “Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông” của Hà Nhật Thăng (chủ biên) [30]; “Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng làm công tác giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên Cao đẳng sư phạm” của Vũ Đình Mạnh [23]; Kỷ yếu hội thảo – “Công tác GVCN ở trường phổ thông” của Bộ Giáo dục và Đào tạo [6]; “Một số vấn đề trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT hiện nay” của Nguyễn Thanh Bình [4]. Ngoài ra, có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về quản lý công tác CNL, có thể kể đến: “Quản lý công tác chủ nhiệm lớp tại trường cao đẳng nghề Quy Nhơn” – năm 2016 của Phạm Ngọc Thảo [27], “Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường Trung học cơ sở Ngô Quyền thành phố Hải Phòng” - năm 2011 của Vũ Thị Hải [17], “Quản lý công tác của giáo viên chủ nhiệm ở các trường Trung học Phổ thông trên địa bàn huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên” – năm 2018 của Nguyễn Duy Phước [22], “Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường trung học cơ sở huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu” – năm 2019 của Lê Trần Mộng Thành [26]. Như vậy, có rất nhiều tác phẩm và công trình nghiên cứu liên quan đến công tác chủ nhiệm lớp.
Ở tỉnh Bình Định, có luận văn thạc sĩ nghiên cứu về quản lý công tác chủ nhiệm lớp tại trường cao đẳng nghề Quy Nhơn. Tuy nhiên, ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về công tác của giáo viên chủ nhiệm dành cho cấp THCS. Đây là một vấn đề nghiên cứu khá mới trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý Quản lý là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm 9 thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra, là một hoạt động bao trùm mọi mặt đời sống xã hội và là nhân tố không thể thiếu trong sự phát triển của xã hội. Quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử. Bàn về vấn đề này, ở Việt Nam có rất nhiều tác giả đưa ra nhiều khái niệm theo những cách tiếp cận khác nhau. Có thể nêu ra một số khái niệm “quản lý” được phần lớn các nhà quản lý chấp nhận như sau: Hà Thế Ngữ cho rằng “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [21] Tác giả Nguyễn Minh Đạo nhìn nhận khái nhiệm trên theo một dạng khác: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên khách thể về các mặt chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội, giáo dục bằng một hệ thống các luận định, chính sách, nguyên tắc, phương pháp, biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [15].
Từ các cách tiếp cận trên, có thể khái quát: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [13]. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là quản lý một hệ thống XH hết sức năng động và phức tạp, nó không chỉ đơn thuần là sử dụng sức mạnh luật pháp mà còn sử dụng hàng loạt các biện pháp đối nhân xử thế để điều khiển, định hướng, điều chỉnh, tác động vào toàn bộ hệ thống, thúc đẩy nó đạt tới mục tiêu mong muốn khả thi. Đối tượng QLGD chủ yếu là con người, đồng thời mục tiêu quản lý cũng chính là hình thành và phát triển nhân cách con người, do đó phương pháp quản lý càng trở nên phong phú, đa dạng và phức tạp hơn. Tùy theo cách nhìn nhận, có nhiều quan niệm khác nhau về QLGD: Theo nghĩa tổng quát: QLGD là “hoạt động điều hành, phối hợp các 10 lực lượng xã hội nhằm đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”.
Theo Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng: “QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [3]. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý giáo dục là những hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp với quy luật của chủ thể quản lý, làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng. Thực hiện được các tính chất của Nhà nước XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [20]. Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát : Quản lý giáo dục là sự tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý lên tập thể GV, HS và các lực lượng khác trong và ngoài nhà trường, huy động họ cùng phối hợp, tác động tham gia vào các hoạt động của nhà trường nhằm đạt mục tiêu giáo dục đã đề ra.
Quản lý nhà trường Nhà trường được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục. Trường học là cơ quan hành chính nhà nước, đồng thời là một tổ chức mang tính xã hội. Do đó, quản lý trường học vừa có tính chất nhà nước, vừa có tính chất xã hội. Khái niệm “quản lý trường học” đã được nhiều tác giả bàn đến như: Theo Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”[27].
Theo Trần Kiểm – Bùi Minh Hiền: “Quản lý trường học có thể hiểu là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể 11 quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm huy động và phối hợp sức lực và trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng tới hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến” [19]. Tóm lại, quản lý trường học về bản chất là quản lý con người (tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh) và quản lý các nguồn lực cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục của nhà trường. Có thể hiểu, quản lý nhà trường là hoạt động phối hợp điều hành của chủ thể quản lý - HT đối với GV, HS và các lực lượng xã hội liên quan nhằm đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường. Cụ thể là thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mong muốn.
Công tác chủ nhiệm lớp Để quản lý, giáo dục học sinh trong lớp, nhà trường phân công một trong những giáo viên đang giảng dạy có năng lực chuyên môn tốt, có kinh nghiệm làm công tác quản lý, giáo dục học sinh, có tinh thần trách nhiệm cao và lòng nhiệt huyết trong công tác, có uy tín với học sinh và đồng nghiệp làm GVCNL. Như vậy khi nói đến người GVCN là đề cập đến vị trí, vai trò, chức năng của người làm công tác chủ nhiệm, còn nói công tác CNL trong nhà trường nói chung và trường THCS nói riêng là đề cập đến những nhiệm vụ, nội dung công việc mà người GVCN phải làm, cần làm và nên làm [5].