MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong lịch sử, con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở. Để thoả mãn nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động làm ra những sản phẩm cần thiết. Của cải xã hội càng nhiều, mức độ thoả mãn nhu cầu càng cao, tức là việc thoả mãn nhu cầu phụ thuộc vào khả năng lao động của con người.
Tuy nhiên, trong trường hợp khó khăn, rủi ro xảy ra làm cho con người bị giảm, mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác (ốm đau, tai nạn, tử vong) làm cho một bộ phận dân cư cần được sự giúp đỡ nhất định để bảo đảm cuộc sống bình thường. Những yếu tố đoàn kết, nhân đạo đã tác động tích cực đến ý thức và công việc xã hội của Nhà nước dưới các chế độ xã hội khác nhau. Cùng với lịch sử phát triển của xã hội loài người, hệ thống ASXH có những cơ sở để hình thành và phát triển. Công nghiệp phát triển và đội ngũ người làm công ăn lương tăng lên, do lao động làm thuê nên cuộc sống phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập.
Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày buộc những người làm công ăn lương phải khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn) và Nhà nước, chủ doanh nghiệp phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ. ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội, tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội. Ở Việt Nam, sau gần 30 năm (1986 - 2015) đổi mới, sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo ra những biến đổi sâu sắc về KT-XH như cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại, thu nhập bình quân đầu người tăng, tỉ lệ hộ nghèo giảm, Tuy nhiên, một số vấn đề xã hội phức tạp khác như phân hóa giàu nghèo, thất nghiệp, người dân vùng cao ít có cơ hội tiếp cận đầy đủ với các dịch vụ của chất lượng cuộc sống. Do đó, vấn đề ASXH càng trở nên cấp thiết nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, hướng tới phát triển bền vững.
1 Thị xã Cẩm Phả (nay là thành phố Cẩm Phả) được thành lập ngày 27/03/1955 trên cơ sở sát nhập thị xã Cẩm Phả và thị xã Cửa Ông. Đây là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử - văn hóa, có tiềm năng phát triển KT-XH. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, những truyền thống tốt đẹp của vùng đất Cẩm Phả luôn được giữ gìn và phát huy. Cùng với sự chăm lo của Đảng và Nhà nước đối với hệ thống chính sách ASXH cả nước, hệ thống ASXH của TP cũng được hình thành, bổ sung.
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ và chính quyền thành phố Cẩm Phả đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển KT-XH và là “điểm sáng” trong thực hiện chính sách ASXH ở tỉnh Quảng Ninh, đời sống vật chất - tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện đáng kể và từng bước ổn định cùng với sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, địa phương này vẫn còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách ASXH Với những lý do và nhận thức thức được vai trò, tầm quan trọng của vấn đề ASXH trong việc phát triển KT-XH của thành phố Cẩm Phả cũng như góp phần phát triển kinh tế của đất nước, chúng tôi quyết định chọn hướng nghiên cứu “Quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội ở thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 1986 - 2015” để thực hiện luận văn thạc sĩ. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2. Trên thế giới ASXH được các nước thừa nhận là một trong những quyền con người.
Nội dung của ASXH được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 10/12/1948. Trong bản Tuyên ngôn có viết: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng an sinh xã hội. Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người”[17]. Ngày 25/6/1952, Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động Quốc tế thông qua Công ước số 102 (Công ước về ASXH) trên cơ sở tập hợp các chế độ về ASXH đã có trên toàn thế giới thành 9 bộ phận.
Với công ước này, quan niệm của ILO về ASXH “là sự bảo vệ của xã hội với các thành viên của mình thông qua hàng loạt các biện pháp công cộng nhằm 2 chống lại tình cảnh khốn khổ về KT-XH gây ra bởi tình trạng bị ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, tử vong, sự cung cấp về chăm sóc y tế và cả sự cung cấp các khoản tiền trợ cấp cho các gia đình đông con” [60;tr 5]. Hội nghị trù bị về “An sinh xã hội ASEAN” ở Singapore (6/2001), các nhà khoa học đã đưa ra một khái niệm tương đối rộng về an sinh xã hội, bao gồm: Bảo hiểm xã hội và tiết kiệm; Bảo hiểm tai nạn công nghiệp; y tế, người già, thất nghiệp. Đó là hệ thống có sự tham gia đóng góp của các bên tạo nguồn dự trữ để sử dụng cho các trường hợp lúc tuổi già, ốm đau, thai sản, chết, tàn tật, thương tật, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp; Trợ giúp xã hội và những dịch vụ xã hội (trợ cấp); Phúc lợi xã hội trích từ thuế và các nhà tài trợ, chính sách thị trường lao động; Tạo cơ hội việc làm, hình thành nguồn nhân lực, phát triển kỹ năng nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm (thông tin, giới thiệu việc làm, đào tạo lại; hỗ trợ việc làm). Trong các đánh giá về chính sách ASXH của Việt Nam không thể không đề cập đến các công trình nghiên cứu của các tổ chức như Ngân hàng Thế giới (WB), Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Chẳng hạn, trong khuôn khổ dự án đối thoại chính sách, Chương trình phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam đã công bố các tài liệu liên quan như “Khuôn khổ hệ thống ASXH quốc gia hợp nhất ở Việt Nam” (2005); “An sinh Việt Nam luỹ tiến đến mức nào?”; “Về bảo trợ và thúc đẩy xã hội: Thiết kế và triển khai các mạng lưới an sinh hiệu quả” của nhóm tác giả thuộc Ngân hàng Thế giới,.
Có thể nói, với vai trò là nhà tài trợ và là đối tác phát triển của Chính phủ Việt Nam, các tổ chức quốc tế đã có những đánh giá khách quan và đề xuất nhiều giải pháp khả thi để xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH của nước ta. Những giải pháp này là một tham vấn hữu ích cho việc phát huy vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách ASXH ở nước ta hiện nay. 3 Trong các công trình nghiên cứu về chính sách ASXH của một số nước trên thế giới phải kể đến một số công trình tiêu biểu sau: Tác giả Nguyễn Duy Dũng trong cuốn “Chính sách và biện pháp giải quyết phúc lợi xã hội ở Nhật Bản” (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998) đã khái quát sự hình thành và phát triển chế độ phúc lợi xã hội ở Nhật Bản; các hình thức và biện pháp nhà nước đảm bảo phúc lợi xã hội ở Nhật Bản (Chế độ chăm sóc sức khoẻ; phúc lợi đối với bà mẹ và trẻ em; phúc lợi xã hội đối với người già; phúc lợi xã hội đối với người tàn tật; phúc lợi xã hội đối với người có thu nhập thấp); tổ chức quản lý và tài chính cho việc thực hiện chính sách phúc lợi xã hội của Nhật Bản [16]. Cùng nghiên cứu về hệ thống ASXH của Nhật Bản, trong công trình “Tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội ở Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay” (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002), tác giả Trần Thị Nhung [56] đã trình bày kinh nghiệm cơ bản của Nhật Bản trong việc giải quyết mối tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và đảm bảo ASXH.
Nhiều nội dung có ý nghĩa quan trọng đã được làm rõ như: Những vấn đề lý luận và phương pháp luận về tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội (khái niệm tăng trưởng kinh tế và các nhân tố tăng trưởng; khái niệm phúc lợi xã hội và các nhân tố ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội; các quan điểm về gắn kết tăng trưởng kinh tế và đảm bảo phúc lợi xã hội); quá trình giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội ở Nhật Bản; kinh nghiệm giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội ở Nhật Bản và vận dụng vào thực tiễn nước ta (tình hình tăng trưởng kinh tế phúc lợi xã hội ở Việt Nam; những tương đồng và khác biệt về kinh tế, xã hội giữa Nhật Bản và Việt Nam; một số kiến nghị và bài học kinh nghiệm), Ngoài ra, trong cuốn sách “Bảo đảm xã hội trong nền KTTT Nhật Bản hiện nay” (Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2008), tác giả Trần Thị Nhung cũng đã giới thiệu chi tiết hệ thống chính sách đảm bảo xã hội trong nền KTTT Nhật Bản hiện nay. Tác giả đã nêu và phân tích được khái 4 niệm và lịch sử phát triển của hệ thống đảm bảo xã hội của Nhật Bản. Trên cơ sở đó, tác giả cung cấp thông tin một cách đầy đủ về đặc điểm, các loại hình, vai trò, chức năng của nhà nước cũng như những khó khăn, thách thức trong việc thực hiện các chế độ đảm bảo xã hội của nhà nước như: Chế độ đảm bảo thu nhập, bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ và TGXH [55]. Công trình “Hệ thống ASXH của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” do Đinh Công Tuấn làm chủ biên (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008) [66] đã phân tích tổng quan về hệ thống ASXH của châu Âu nói chung (khái niệm, quá trình hình thành và phát triển; nhu cầu và thách thức trong việc cải cách hệ thống ASXH của châu Âu hiện nay) và một số quốc gia điển hình như: Hệ thống ASXH theo mô hình "thị trường xã hội" của Đức; hệ thống ASXH theo mô hình "xã hội dân chủ" của Thuỵ Điển; hệ thống ASXH theo mô hình "thị trường tự do" của Anh.