CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm a. Nhân lực Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm thể lực, trí lực và nhân cách [10].
Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế, tuổi tác, thời gian công tác, giới tính. Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách. của từng con người. Nhân cách được xem là toàn bộ những đặc điểm phẩm chất tâm lý của cá nhân, qui định giá trị xã hội và hành vi của họ.
Nguồn nhân lực Đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực thể hiện dưới nhiều góc độ khác nhau, đó là: Nguồn nhân lực là toàn bộ khả năng về sức lực, trí tuệ của mọi cá nhân trong doanh nghiệp, bất kể vai trò của họ là gì [26]. Theo ý kiến này, nói đến nguồn nhân lực là nói đến sức óc, sức bắp thịt, sức thần kinh và nhìn nhận các khả năng này ở trạng thái tĩnh. Có ý kiến cho rằng, nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Khác với quan niệm trên, ở đây đã xem xét vấn đề ở trạng thái động.
Theo Tổng cục Thống kê: Nguồn nhân lực xã hội, khi tính toán bao gồm Luan van 8 những người ngoài tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Một số quốc gia quan niệm nguồn nhân lực quốc gia là toàn bộ những người ước vào tuổi lao động trở lên, có khả năng lao động. Quan điểm này chỉ nhìn nhân lực là lực lượng lao động ở góc độ phục vụ cho công tác thống kế. Theo cách tiếp cận của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là tất cả các kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Nguồn nhân lực là nguồn lực cơ bản của mỗi quốc gia, là tổng thể tiềm năng lao động của con người. Theo Begg, Ficher và Dornbush, khác với nguồn lực vật chất khác, nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Nguồn nhân lực là con người lao động có nhân cách (có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp và hoạt động xã hội, có phẩm chất tâm lý như động cơ, thái độ ứng xử với các tình huống trong cuộc sống), có khả năng tích lũy kinh nghiệm nghề nghiệp và vốn sống. Quan điểm các doanh nghiệp: Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là số người trong danh sách của doanh nghiệp do doanh nghiệp trả lương.
Theo cơ cấu chức năng, nguồn nhân lực doanh nghiệp chia làm hai loại: Viên chức quản lý và công nhân. Theo thời gian làm việc, nguồn nhân lực được phân thành lao động hợp đồng không xác định thời hạn; xác định thời hạn và lao động vụ việc. Như vậy, doanh nghiệp nhìn nhận nguồn nhân lực trong phạm vi lực lượng lao động trực tiếp sản xuất cho doanh nghiệp. Nguồn nhân lực bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bất cứ đặc điểm nào khác của người lao động [34].
Nguồn nhân lực là tổng khả năng lao động của tất cả những người tham gia lao động trong doanh nghiệp. Về mặt số lượng, khái niệm nguồn nhân lực có phạm vi rộng hơn khái niệm nguồn lao động vì nguồn nhân lực bao hàm cả Luan van 9 những người không nằm trong độ tuổi lao động nhưng thực tế có tham gia lao động. Về mặt chất lượng, khái niệm nguồn nhân lực là khái niệm mới theo nghĩa nhấn mạnh, đề cao khía cạnh chất lượng của lao động. Mặc dù không thể tách rời một cách máy móc giữa số lượng và chất lượng lao động, song rõ ràng để đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên tri thức thì khía cạnh chất lượng ngày càng trở nên quan trọng.
Điều này đòi hỏi chất lượng của từng người lao động và cơ cấu lao động phải phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp, phải tạo ra được sự tương tác, phối hợp tốt nhất nhằm thực hiện mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra. Như vậy, nguồn nhân lực là nguồn lực căn bản nhất của mọi tổ chức, của quốc gia. Đặc biệt là trong thời đại kinh tế tri thức ngày nay thì nguồn nhân lực quyết định sự thành bại của các tổ chức. Đảng ta khẳng định: “Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”.
Các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, khoa học - kỹ thuật, công nghệ,. dù có bao nhiêu cũng vẫn là hạn hữu, chúng không có sức mạnh tự thân và sẽ cạn kiệt dần trong quá trình khai thác, sử dụng của con người. Hơn thế nữa các nguồn lực này chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực khi được kết hợp với nguồn lực con người, thông qua hoạt động có ý thức của con người. Từ những quan niệm trên, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp.
Phát triển nguồn nhân lực Theo cách tiếp cận trên và nếu chỉ dừng lại ở việc xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng thì chưa đủ. Đối với các hệ thống kinh tế - xã hội nói chung, các tổ chức doanh nghiệp nói riêng, thì để có thể thực hiện thành công Luan van 10 các mục tiêu chiến lược của mình đòi hỏi phải biết xử lý tốt và giải quyết đúng đắn vấn đề phát triển nguồn nhân lực. Trước hết Phát triển là quá trình biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao. Là quá trình học tập, nhằm mở ra cho cá nhân những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai cho tổ chức.
Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm chuẩn bị cho nhân viên theo kịp với cơ cấu tổ chức khi nó thay đổi và phát triển. - Phát triển nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhiệm một công việc nhất định. - Phát triển nguồn nhân lực là truyền đạt các kiến thức, thay đổi quan điểm, nâng cao kỹ năng thực hành cho người lao động trong tương lai. Như vậy, thực chất của việc phát triển nguồn nhân lực là tìm cách nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực đó.
Nói cách khác, nếu tăng quy mô quan tâm đến việc tăng số lượng nguồn nhân lực, thì phát triển nguồn nhân lực quan tâm đến chất lượng của nguồn nhân lực đó. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là quá trình tạo lập và phát triển năng lực toàn diện của người lao động vì sự phát triển của doanh nghiệp và sự hoàn thiện bản thân của mỗi con người. Nó là kết quả tổng hợp của cả 03 bộ phận cấu thành gồm: Giáo dục, Đào tạo và Phát triển. Giáo dục: là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang nghề nghiệp mới thích hợp hơn trong tương lai.
Đào tạo: được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Phát triển: là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước Luan van 11 mắt của người lao động, mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở định hướng tương lai của tổ chức. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Phát triển nguồn nhân lực bao hàm một phạm vi rộng lớn hơn chứ không chỉ sự chiếm lĩnh nghề hoặc ngay cả việc đào tạo nói chung mà còn là sự phát triển năng lực đó của con người để tiến tới có việc làm hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Theo Leonard Nadler: Phát triển nguồn nhân lực là các kinh nghiệm học tập có tổ chức được diễn ra trong những khoảng thời gian nhất định nhằm tăng khả năng thực hiện công việc, phát triển tổ chức và cá nhân.
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực nhưng nhìn chung phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình học tập và phát triển năng lực toàn diện của con người vì sự tiến bộ kinh tế, xã hội và sự hoàn thiện bản thân của mỗi người. Phát triển nguồn nhân lực là một trong những nội dung của quản trị nguồn nhân lực và không thể tách rời quản trị nguồn nhân lực. Từ các quan niệm trên có thể hiểu: Phát triển nguồn nhân là quá trình gia tăng, biến đổi đáng kể về chất lượng của nguồn nhân lực và sự biến đổi này được biểu hiện ở việc nâng cao năng lực và động cơ của người lao động nhằm đáp ứng mục tiêu, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Ý nghĩa công tác phát triển nguồn nhân lực Về mặt xã hội, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là vấn đề sống còn của một đất nước, nó quyết định sự phát triển của xã hội, là một trong những giải pháp để chống lai sự thất nghiệp, đảm bảo việc làm và phát triển bền vững.
Về phía doanh nghiệp, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là để đáp ứng được yêu cầu công việc của tổ chức, tạo điều kiện cho quan hệ giữa tổ Luan van 12 chức và người lao động ngày càng được cải thiện, gắn kết với nhau hơn, nâng cao tính ổn định và năng động của tổ chức, tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Về phía người lao động, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu học tập của người lao động, được cử đi đào tạo người lao động cảm thấy mình có vai trò quan trọng trong tổ chức, từ đó tạo ra một sự gắn bó giữa người lao động và tổ chức.