phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày theo 4 chương. Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề cơ bản về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Chƣơng 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Bình Dương Chƣơng 4: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Bình Dương trong thời gian tới 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các đề tài nghiên cứu đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực của các tác giả nước ngoài Cùng bàn về vấn đề nguồn nhân lực nói chung hay sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC) nói riêng, các tác giả nước ngoài có rất nhiều công trình khoa học.
Một trong những công trình tiêu biểu của Trung Quốc được giới thiệu ở Việt Nam là: Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài – Kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước của hai tác giả Thầm Vinh Hoa và Ngô Quốc Diệu (chủ biên). Đây là công trình tập trung giới thiệu những tư tưởng lớn của Đặng Tiểu Bình về trọng dụng nhân tài nhằm vận dụng cho công cuộc phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc hiện nay. Trong cuốn “Truy tìm căn nguyên tăng trưởng” của William Easterly, tác giả đã thừa nhận rằng: “Không có một công thức thần kỳ nào có thể biến một người nghèo trở nên giàu có. Viện trợ, đầu tư, giáo dục, kiểm soát dân số, điều chỉnh chính sách cho vay hay xóa nợ đều không phải là liều thuốc tiên cho tăng trưởng”; và chính tác giả luận giải rằng: “Nguyên nhân là do các công thức nêu trên đã không dựa trên nguyên tắc cơ bản của kinh tế học: đó là con người hành động vì động cơ”.
Con người mà tác giả nêu ở đây, diễn đạt theo một cách khác chính là nguồn nhân lực. John Bernardin (2007), Human resource management (Quản lý nguồn nhân lực) Nxb McGraw-hill, Boston, tác giả đã nêu ra cách thức quản lý và sử dụng nguồn lực con người, phân tích về các nghề nghiệp, đưa ra các kế hoạch và cách thức tuyển dụng nguồn nhân lực. Hơn nữa tác giả chỉ ra các lý do nhằm phát triển nghề nghiệp đối với người lao động và cách thu hút nguồn lực lao động cho quốc gia. Cuối cùng thông qua 16 chương của cuốn sách tác giả đã 5 nêu ra vai trò và cách thức để sử dụng nguồn nhân lực một cách an toàn và hợp lý.
Nolwen Henaff, Jean Yves Martin ( 2001), Labour, employment and human resources in Viet Nam after 15 years of renovation(Lao động, việc làm và nguồn nhân lực Việt nam sau 15 năm đổi mới)Nxb Thế giới, Hà Nội. Các tác giả đã phân tích tình trạng lao động, việc làm và thực trạng nguồn nhân lực của Việt Nam sau 15 năm đổi mới. Điều này giúp cho người đọc thấy được thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở Việt nam là một điều rất cần thiết trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Prescott và Maria W.
Taylor, Vũ Thanh Vân dịch(2010), Human resources transformation (Chuyển hóa nguồn nhân lực), Kinh tế Quốc dân, Hà Nội. Cuốn sách lấy vấn đề chuyển đổi nhân sự làm trung tâm, nó lột tả, khám phá và khắc họa chính xác vai trò, nhiệm vụ của nhân sự trong hơn thập kỉ qua và đưa ra dự đoán các xu hướng mới trong tương lai. Các tác giả đã dành riêng hai phần đầu trong cuốn sách để dẫn dắt người đọc làm quen với khái niệm chuyển đổi nhân sự thông qua cái nhìn toàn cảnh trong quá khứ, các yếu tố tác động hiện tại, tiền đề của sự đổi mới và xu hướng hình thái cấp tiến của nhân sự hiện đại. Qua đó, ngành nhân sự như được thoát khỏi cái bóng thầm lặng, thụ động trong thành công của tổ chức.Từ đó người đọc sẽ rút ra cho mình những kinh nghiệm, bài học và cách thức thực hiện chuyển đổi nhân sự phù hợp nhất với bối cảnh hiện tại.
Ngoài ra, trong phần phụ lục, các tác giả còn đưa ra bài nghiên cứu thực tế dựa trên các ý kiến, quan điểm của các nhà quản lý trong việc áp dụng chuyển đổi nhân sự. Cùng với đó là Bảng khảo sát dành cho độc giả nhằm xác định, đánh giá mức độ ưu thế nhân sự trong doanh nghiệp để ngay lập tức có thể đề ra chiến lược và phương hướng hành động cho bản thân trong việc chuyển đổi nhân sự có tác động rất lớn đối với quá trình sử dụng một cách hợp lý nguồn nhân lực. Các nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực của các tác giả trong nước Comment [s3]: CĂN LỀ 6 Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, việc giải quyết các vấn đề xã hội như vấn đề việc làm và phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng đã được quan tâm nghiên cứu, đề cập ở nhiều công trình, bài viết dưới các góc độ khác nhau, cụ thể như: PTS. Mai Quốc Chánh chủ biên (1999), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Cuốn sách đã phân tích vai trò của nguồn nhân lực và việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nước ta đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước TS. Bùi Thị Ngọc Lan (2002) Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tác giả đã phân tích rõ vị trí, vai trò, chức năng của nguồn lực trí tuệ -bộ phận trung tâm, làm nên chất lượng và sức mạnh ngày càng tăng của NLCN và là tài sản vô giá của mỗi quốc gia, dân tộc và của toàn nhân loại. Trên cơ s ở đó, tác giả đưa ra những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
TS Phạm Văn Khánh (2011) Trọng dụng nhân tài giáo dục để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thời kì mới , Tạp chí Dân số và Phát triển, số 9(101). Tác giả nêu ra “Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đang đặt ra cho nước ta những yêu cầu mới về nguồn nhân lực chất lượng cao, nghĩa là nguồn nhân lực được đào tạo có kỹ năng lao động, làm việc có kỹ thuật, có trình độ khoa học, công nghệ tiên tiến. Trong điều kiện hội nhập, mở cửa thị tường, Việt Nam chủ trương CNH rút ngắn thời gian gắn với phát triển kinh tế tri thức thì yêu cầu lại càng nhiều hơn về số lượng, nâng cao về chất lượng đối với nhân lực để có thể nâng cao năng suất lao động xã hội, sớm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và nâng cao đời sống nhân dân, nhất là các tầng lớp lao động như nông dân, công nhân, tri thức. Một yêu cầu của CNH, HĐH là nguồn nhân lực phải có sức khỏe và tiếp thu nhanh kiến thức khoa học, công nghệ mới, có kỹ năng làm việc trong môi trường công nghệ, kỹ thuật ngày càng đổi mới và phát triển.
Do vậy phát triển 7 nhân lực phải tập trung vào thế hệ trẻ. Vấn đề đặt ra là trong điều kiện đẩy mạnh CNH, hội nhập thì giáo dục, đào tạo phải làm sao để thanh niên, thế hệ trẻ trở thành đội quân xung kích đi vào khoa học công nghệ mới. Tuy lực lượng lao động trẻ nước ta được xếp vào hạng quốc gia có trình độ học vấn khá, có nhiều học sinh, sinh viên thông minh đạt giải quốc tế, nhưng lại thiếu những nhà kỹ nghệ trẻ tài năng, những doanh nhân, nhà doanh nghiệp trẻ có tài và những lao động tinh thông công nghệ mới”. TS Trần Anh Phương (2011) Phát triển nguồn nhân lực và xây dựng các khu kinh tế biển đảo giải pháp phát triển kinh tế-xã hội và ứng phó với biến đổi khí hậu Tạp chí Dân số và Phát triển, số 9.
Tác giả cho rằng việc quan trọng trước hết chúng ta cần làm ngay, đó là đánh giá và dự báo đúng nhu cầu phát triển qui mô dân số hợp lý, nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực chất lượng cao của các vùng ven biển, vùng biển và hải đảo, trong đó nòng cốt là cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ, các chuyên gia và đội ngũ lao động chuyên ngành kỹ thuật thuộc lĩnh vực kinh tế biển. Trên cơ sở đó lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao trung hạn và dài hạn, cùng với việc xây dựng cơ chế, chính sách đào tạo gắn với cơ chế cử tuyển để khuyến khích cán bộ khoa học và quản lý công tác tại các hải đảo, các vùng ven biển GS.TS Đặng Hữu – TS Đinh Quang Ty (2005), Đề tài KX.03 – Xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức và tác động của nó đến sự phát triển và lựa chọn chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam”, Hà Nội. Đề tài nghiên cứu nhằm làm rõ bản chất của kinh tế tri thức, những đặc điểm cơ bản và xu thế phát triển của nó, tác động của nó đến sự phát triển xã hội, kinh nghiệm của các nền kinh tế đang tiến tới kinh tế tri thức; đồng thời phân tích thực trạng kinh tế nước ta dưới góc nhìn của kinh tế tri thức, từ đó đề xuất các kiến nghị về phát triển kinh tế tri thức ở nước ta, nhằm đẩy nhanh, rút ngắn quá trình CNH,HĐH. TS Lê Thị Hồng Điệp (2012), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam, Nxb ĐHQG Hà Nội.
8 Tác giả xác định nguồn nhân lực chất lượng cao và nhân tài được xem là nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định sự thành bại của bất kỳ quốc gia nào trong quá trình hòa nhập vào xu hướng phát triển mới của thời đại. Từ đó chỉ ra vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu xây dựng nền kinh tế trí thức có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với tương lai phát triển của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Phan Thanh Phố - An Như Hải, Phát triển nguồn nhân lực để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạp chí Kinh tế và phát triển, số 3/1995.