CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ TỔNG QUAN DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG VINAPHONE, KINH DOANH VÀ PHÁT TRIỂN KINH DOANH DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG VINAPHONE. Dịch vụ thông tin di động 1.1 Khái niệm dịch vụ thông tin di động. Dịch vụ Dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa - dịch vụ.
Chính vì thế, dịch vụ là một lĩnh vực kinh tế lớn nhất trong xã hội hiện đại, nền kinh tế càng phát triển, trình độ chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội càng cao thì dịch vụ càng phát triển để đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội. Có thể chia các sản phẩm dịch vụ mà các doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng thành 3 nhóm lớn như sau: Dịch vụ thuần túy (có tính vô hình) Hàng hóa thuần túy (có tính hữu hình) Hỗn hợp hàng hóa - dịch vụ (kết hợp cả hai loại trên) e 7 Tư vấn tình yêu Dịch vụ thuần túy Vô Bưu chính viễn thông hình Giải phẫu thẩm mỹ Hỗn hợp hàng Du lịch hóa và dịch vụ Thuốc chữa bệnh Hữu Xe máy hình Thuốc lá Hàng hóa thuần túy Hình 1.1: Phân loại sản phẩm - dịch vụ Dịch vụ thuần túy có các đặc trưng phân biệt so với hàng hóa thuần túy. Đó là: tính vô hình, tính không tách rời giữa sản xuất và tiêu dùng dịch vụ, tính không đồng đều về chất lượng, tính không dự trữ được, tính không chuyển đổi sở hữu. Chính những đặc trưng này mang tới những phương thức kinh doanh khác biệt giữa hàng hóa hữu hình và dịch vụ.
Dịch vụ thông tin di động Theo Luật viễn thông "Dịch vụ thông tin di động" là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết cuối của mạng viễn thông. Theo Nghị định số 109/CP, dịch vụ viễn thông được hiểu là dịch vụ truyền đưa, lưu trữ và cung cấp thông tin bằng hình thức truyền dẫn, phát, thu những ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh thông qua mạng lưới viễn thông công cộng do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cung cấp. Đặc điểm dịch vụ thông tin di động Thứ nhất: Dịch vụ thông tin di động rất khác với các sản phẩm của ngành sản xuất công nghiệp, nó không phải là một sản phẩm vật chất chế tạo mới, không phải là hàng hóa cụ thể mà là kết quả có ích cuối cùng của quá trình truyền đưa tin tức dưới dạng dịch vụ. e 8 Thứ hai: Đó là sự không tách rời của quá trình tiêu dùng và sản xuất dịch vụ viễn thông, hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức được tiêu dùng ngay trong quá trình sản xuất.
Ví dụ: Trong một cuộc đàm thoại qua điện thoại, thời điểm bắt đầu đăng ký đàm thoại cũng chính là thời điểm bắt đầu quá trình sản xuất, sau khi đàm thoại xong tức là khách hàng cũng kết thúc quá trình tiêu dùng dịch vụ và quá trình sản xuất cũng kết thúc. Trong viễn thông, kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất không thể cất giữ được ở trong kho, không dự trữ được, không thể thu hồi sản phẩm cho vào quay vòng, tái sản xuất. Từ đặc điểm này rút ra yêu cầu về chất lượng dịch vụ viễn thông phải cao nếu không sẽ ảnh hưởng trực tiếp và ngay lập tức tới người tiêu dùng. Hơn nữa, để sử dụng dịch vụ viễn thông, người sử dụng phải có mặt ở vị trí, địa điểm xác định của nhà cung cấp dịch vụ hoặc nơi có thiết bị của nhà cung cấp dịch vụ.
Thứ ba: Xuất phát từ bản chất của dịch vụ thông tin di động là truyền đưa tin tức rất đa dạng, do vậy nó xuất hiện không đồng đều theo không gian và thời gian. Thông thường, nhu cầu truyền đưa tin tức phụ thuộc vào nhịp độ sinh hoạt của xã hội, vào những giờ ban ngày, giờ làm việc của các cơ quan, doanh nghiệp, vào các kỳ hội, lễ tết thì lượng nhu cầu rất lớn. Trong điều kiện yêu cầu phục vụ không đồng đều, để thỏa mãn tốt nhu cầu của khách hàng, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông phải dự trữ đáng kể năng lực sản xuất và lực lượng lao động. Thứ tư: đó là sự khác biệt so với ngành sản xuất công nghiệp, nơi mà đối tượng chịu sự thay đổi vật chất (về mặt vật lý, hóa học,.), còn trong ngành sản xuất xuất dịch vụ thông tin di động, thông tin là dối tượng lao động chỉ chịu tác dộng dời chỗ trong không gian.
Thậm chí, nếu thông tin trong quá trình truyền tài nhờ các thiết bị viễn thông được biến đổi thành các tín hiệu thông tin điện, thì ở các nơi nhận tín hiệu phải được khôi phục trở lại trạng thái ban đầu của nó. Mọi sự thay đổi thông tin đều có nghĩa là sự méo mó, mất đi giá trị sử dụng và dẫn đến tổn thất lợi ích của khách hàng. Thứ năm: Quá trình truyền đưa tin tức luôn mang tính hai chiều giữa người gửi và người nhận thông tin. Nhu cầu truyền đưa tin tức có thể phát sinh ở mọi điểm e 9 dân cư, điều đó đòi hỏi phải hình thành một mạng lưới cung cấp dịch vụ có độ tin cậy, rộng khắp.2 Kinh doanh dịch vụ thông tin di động 1.1 Khái niệm kinh doanh dịch vụ thông tin di động.
Kinh doanh dịch vụ thông tin di động là một khái niệm rộng, có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau, tuy nhiên nếu bỏ qua các phần khác nhau nói về phương tiện, phương thức, kết quả cụ thể của hoạt động kinh doanh thì có thể hiểu kinh doanh dịch vụ thông tin di động là các hoạt động truyền đưa tin tức nhằm mục tiêu sinh lời của các chủ thể kinh doanh (doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông) trên thị trường.2 Đặc điểm kinh doanh dịch vụ thông tin di động. - Kinh doanh dịch vụ viễn thông phải do một chủ thể thực hiện được gọi là chủ thể kinh doanh. Chủ thể kinh doanh có thể là doanh nghiệp Nhà nước (Tập đoàn BCVT Việt Nam; Tập đoàn Viễn thông Quân đội…); doanh nghiệp cổ phần (Công ty cổ phần dịch vụ BCVT Sài Gòn) và các loại hình doanh nghiệp khác. - Kinh doanh dịch vụ viễn thông phải gắn với thị trường.
Thị trường và kinh doanh đi liền với nhau như hình với bóng, không có thị trường thì không có khái niệm kinh doanh. Thị trường kinh doanh dịch vụ viễn thông phải được hiểu theo nghĩa rộng là hệ thống bao gồm các khách hàng sử dụng dịch vụ, các nhà cung cấp, mối quan hệ cung cầu giữa họ tác động qua lại để xác định giá cả, số lượng và chất lượng sản phẩm dịch vụ viễn thông. - Kinh doanh dịch vụ viễn thông phải gắn với vận động của đồng vốn. Các doanh nghiệp viễn thông không chỉ có vốn mà còn cần thiết phải biết các thực hiện vận động đồng vốn đó không ngừng.
Nếu gạt bỏ nguồn gốc bóc lột trong công thức tư bản của C.Mác, có thể xem công thức này là công thức kinh doanh: T-H-SX…- T’, các doanh nghiệp viễn thông dùng vốn của mình dưới hình thức tiền tệ (T) mua tư liệu sản xuất (H) để sản xuất (truyền đưa tin tức) theo yêu cầu của khách hàng nhằm thu được số lượng tiền tệ lớn hơn (T’). e 10 - Mục đích chủ yếu của kinh doanh dịch vụ viễn thông là sinh lời – lợi nhuận (T’ – T >0).3 Các nhân tố ảnh hưởng đến kinh doanh dịch vụ thông tin di động.1 Nhóm nhân tố khách quan của doanh nghiệp * Môi trường chính trị – pháp luật ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại giữ rất vai trò quan trọng trong việc xác định hướng kinh doanh của doanh nghiệp viễn thông. Sự ổn định về chính trị sẽ tạo một môi trường thuận lợi, là động lực hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Có sự ổn định về chính trị, các doanh nghiêp viễn thông sẽ được đảm bảo an toàn về đầu tư, quyền sở hữu và các loại tài sản khác.
Pháp luật đảm bảo tính bình đẳng của mọi loại hình doanh nghiệp trong kinh doanh, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp. Hệ thống pháp luật điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp viễn thông như: luật doanh nghiệp, luật chống độc quyền, nghị định quản lý Internet, luật viễn thông. đã tạo ra một môi trường pháp lý công bằng, minh bạch, tạo điều kiện cho doanh nghiệp viễn thông phát triển và hội nhập. * Môi trường kinh tế: Kinh tế tăng trưởng, mức sống của người dân được nâng cao, nhu cầu mua sắm của xã hội tăng cao, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tăng doanh thu, có vốn để tái đầu tư và mở rộng sản xuất để thỏa mãn hơn nữa nhu cầu xã hội.
Sự ưu đãi hay hạn chế đối với một số ngành hay lĩnh vực nào đó được thể hiện trong chính sách kinh tế quốc gia sẽ tạo điều kiện cho các ngành đó mở rộng, phát triển hay thu hẹp về quy mô. Viễn thông là một ngành đang ở thời kỳ phát triển, các chính sách kinh tế cũng hỗ trợ, tạo điều kiện thúc đẩy để Viễn thông trở thành một trong những mũi nhọn kinh tế. Đồng thời cũng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh của mình để đứng vững trên thị trường sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO. *Môi trường Văn hóa – Xã hội: Mật độ dân số, độ tuổi, thu nhập của khu vực thị trường, thói quen tiêu dùng, phong tục tập quán.
có ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng của người dân, ảnh hưởng đến quyết định có nên đầu tư hay không của các e 11 doanh nghiệp viễn thông. Điều này ảnh hưởng đến chi phí, doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp. Môi trường văn hóa có ảnh hưởng đến doanh thu và nhiều mặt khác của doanh nghiệp viễn thông như thuê mướn lao động, trách nhiệm xã hội, quan niệm đạo đức kinh doanh. * Môi trường công nghệ: Công nghệ là nhân tố có sự thay đổi năng động nhất trong các yếu tố của môi trường kinh doanh.
Sự thay đổi của công nghệ còn được gọi là “sự phá hủy sáng tạo, luôn mang lại những sản phẩm dịch vụ mới, nâng cao năng lực của con người, thay đổi phương pháp làm việc của họ. Công nghệ tác động trực tiếp lên dịch vụ viễn thông, ảnh hưởng đến doanh thu của doanh nghiệp.