lời mở đầu, kết luận bố cục luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng đẩy mạnh dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Phú Tài Chƣơng 3: Một số giải pháp đẩy mạnh dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Phú Tài 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát chung về Ngân hàng thƣơng mại và dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm và vai trò của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thƣơng mại đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá.
Sự phát triển của hệ thống ngân hàng thƣơng mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngƣợc lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó – kinh tế thị trƣờng – thì ngân hàng thƣơng mại cũng ngày càng đƣợc hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu đƣợc. Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 [19] định nghĩa: Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Theo Luật Ngân hàng nhà nƣớc năm 2010 [18]: Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Từ những nhận định trên trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trƣng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Vai trò NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, là công cụ quan trọng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển 7 Hoạt động kinh doanh tiền tệ với chức năng trung gian tín dụng, NHTM khắc phục những khiếm khuyết của thị trƣờng tài chính, khơi thông nguồn vốn nhàn r i ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế … hình thành nên quỹ cho vay và sử dụng chúng để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Là một kênh phân phối vốn có hiệu quả NHTM tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có khả năng tận dụng cơ hội đầu tƣ, mở rộng sản xuất kinh doanh, cải tiến qui trình công nghệ, từ đó nâng cao năng suất lao động để có thể đứng vững trong sự cạnh tranh khốc liệt của thị trƣờng. Với khả năng cung cấp vốn, NHTM đã trở thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của mồi quốc gia.
NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường Để có thể đƣa sản phẩm hàng hóa dịch vụ tiếp cận với thị trƣờng đầu ra và tìm kiếm lợi nhuận, các doanh nghiệp cần phải có vốn (yếu tố đầu vào quan trọng, nền tảng của mọi hoạt động) để thực hiện sản xuất. Khi vốn tự có không đủ hoạt động, các doanh nghiệp phải tìm đến các nguồn vốn khác. NHTM sẽ giúp doanh nghiệp giải quyết đƣợc khó khăn bằng nguồn vốn tín dụng. Nhƣ vậy, NHTM chính là cầu nối đƣa doanh nghiệp đến với thị trƣờng, giúp doanh nghiệp tìm đƣợc vốn đầu vào, bôi trơn hoạt động sản xuất kinh doanh và thanh toán để tạo ra thành phẩm cho thị trƣờng.
NHTM giúp doanh nghiệp và thị trƣờng gần nhau hơn cả về không gian và thời gian. NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế Các NHTM một mặt chịu sự tác động trực tiếp từ các công cụ của chính sách tiền tệ (thị trƣờng mở, dự trữ bắt buộc, lãi suất…) mặt khác gián tiếp tham gia điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua mối quan hệ với các tổ chức kinh tế, cá nhân về các hoạt động tài chính tín dụng. Thông qua hoạt động của NHTM với các chủ thể khác trong nền kinh tế, mọi thông tin có liên quan đến việc hoạch định chính sách tiền tệ sẽ đƣợc phản hồi lại NHTW, giúp 8 NHTW có thể hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp trong từng thời kỳ để đảm bảo thúc đẩy nền kinh tế tăng trƣởng và phát triển ổn định. NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế Ngày nay, mồi quốc gia độc lập đều phát triển quan hệ quốc tế đa dạng và phức tạp trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hoá, khoa học công nghệ…, trong đó quan hệ kinh tế đƣợc chú trọng nhất.
Áp lực cạnh tranh buộc m i quốc gia khi mở cửa hội nhập phải có tiềm lực lớn mạnh. Hệ thống NHTM với các nghiệp vụ nhƣ: thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, uỷ thác đầu tƣ, … sẽ giúp nền kinh tế của một quốc gia hòa nhập với phần còn lại của thế giới. Hệ thống NHTM trong nƣớc đã điều tiết tài chính trong nƣớc phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế, đƣa nền tài chính trong nƣớc bắt kịp với nền tài chính quốc tế. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu á – AIT, dịch vụ NHBL là cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lƣới chi nhánh, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các phƣơng tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin.
Theo khái niệm của Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO): “Ngân hàng bán lẻ là nơi khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại những điểm giao dịch của ngân hàng để thực hiện các dịch vụ nhƣ: Gửi tiền tiết kiệm và kiểm tra tài khoản, thế chấp vay vốn, dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và các dịch vụ khác đi kèm”. Tóm lại, dịch vụ ngân hàng bán lẻ có thể hiểu một cách đầy đủ nhƣ sau: “Dịch vụ ngân hàng bán lẻ là dịch vụ ngân hàng đƣợc cung ứng đến từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thông qua mạng lƣới chi nhánh hoặc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng 9 thông qua các phƣơng tiện thông tin điện tử viễn thông”. Theo các định nghịa trên, dịch vụ NHBL chỉ đƣợc thực hiện nhờ công nghệ thông tin, cụ thể là: - CNTT là tiền đề quan trọng để lƣu giữ và xử lý cơ sở dữ liệu tập trung, cho phép các giao dịch trực tuyến đƣợc thực hiện; - CNTT h trợ triển khai các sản phẩm dịch vụ NHBL tiên tiến nhƣ chuyển tiền tự động, huy động vốn và cho vay dân cƣ dƣới nhiều hình thứ khác nhau; - Nhờ khả năng trao đổi thông tin tức thời, CNTT góp phần nâng cao hiệu quả của việc quản trị ngân hàng, tạo điều kiện thực hiện mô hình xử lý tập trung các giao dịch có tính chất phân tán nhƣ: chuyển tiền, giao dịch thẻ. tiết giảm đáng kể chi phí giao dịch; - CNTT có tác dụng tăng cƣờng khả năng quản trị trong ngân hàng, hệ thống quản trị tập trung sẽ cho phép khai thác dữ liệu một cách nhất quán, nhanh chóng, chính xác.
Dịch vụ NHBL mang tính vô hình, do vậy khi sử dụng các dịch vụ này, khách hàng thƣờng không thấy rõ hình dạng cụ thể của loại hình dịch vụ này mà chỉ cảm nhận thông qua các tiện ích mà dịch vụ mang lại. Do vậy, dịch vụ phải không ngừng thay đổi về hình thức, đa dạng về mẫu mã, có nhiều tiện ích, tính năng linh hoạt phù hợp với thị trƣờng và đáp ứng đƣợc nhu cầu ngày càng cao của khách hàng thì mới tồn tại và phát triển. Cũng vì lẽ đó, ngày càng nhiều loại hình dịch vụ NHBL đƣợc triển khai thực hiện tạo ra một không gian mới mang tính cạnh tranh cao. Phân loại dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại Hoạt động huy động vốn Hoạt động huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng nhƣ đối với xã hội.
Trong nghiệp vụ này, ngân hàng 10 thƣơng mại đƣợc phép sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn r i trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế. Thành phần nguồn vốn của ngân hàng thƣơng mại gồm: - Vốn điều lệ (Statutory Capital) - Các quỹ dự trữ (Reserve funds) - Vốn huy động (Mobilized Capital) - Vốn đi vay (Bonowed Capital) - Vốn tiếp nhận (Trust capital) - Vốn khác (Other Capital) a. Vốn điều lệ và các quỹ: Vốn điều lệ, các quỹ của ngân hàng đƣợc gọi là vốn tự có của ngân hàng (Bank’s Capital), và đƣợc hình thành từ các nguồn: Vốn chủ sở hữu khi ngân hàng mới thành lập Nguồn vốn bổ sung hàng năm từ lợi nhuận kinh doanh, từ vốn góp thêm của chủ sở hữuVốn điều lệ của ngân hàng trƣớc hết đƣợc dùng để xây dựng nhà cửa, văn phòng làm việc, mua sắm tài sản, trang thiết bị nhằm tạo cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng, số còn lại để đầu tƣ, liên doanh, cho vay trung và dài hạn Các quỹ dự trữ của ngân hàng: đây là các quỹ bắt buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng, các quỹ này đƣợc trích lập theo tỷ lệ qui định trên số lợi nhận ròng của ngân hàng, bao gồm: Quỹ dự trữ: đƣợc trích từ lợi nhuận ròng hằng năm để bổ sung vốn điều lệ Quỹ dự phòng tài chính: Quỹ này để dự phòng bù đắp rủi ro, thua l trong hoạt động của ngân hàng Quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ Quỹ khen thƣởng phúc lợi. 11 Lợi nhuận để lại để phân bổ cho các quỹ.
Chênh lệch tỷ giá, đánh giá lại tài sản, nguồn vốn đầu tƣ XDCB.