chương 1 cũng nêu ra các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng bán lẻ và tiêu chí để đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng bán lẻ làm tiền đề cho phân tích thực trạng ở chương 2.1 Những vấn đề cơ bản về tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm tín dụng bán lẻ Tín dụng bán lẻ cùng với tín dụng bán buôn là hai bộ phận cấu thành nên hoạt động tín dụng của NHTM, nó là một phần của ngân hàng bán lẻ. Hiện nay, ở Việt Nam vẫn chưa có khái niệm thống nhất, rõ ràng về TDBL. Theo Luật các tổ chức tín dụng điều 4 khoản 14 có định nghĩa: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Như vậy trong luật cũng chỉ quy định chung về cấp tín dụng bao hàm cả hai nội dung tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ.
Có nhiều khái niệm về TDBL được đưa ra, theo Lê Khắc Trí (2007): “Bán lẻ tín dụng là những hình thức và các khoản cho vay trực tiếp đến các người vay cuối cùng, chủ yếu là các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ”. Tóm lại, kết hợp các quan điểm trên cho thấy TDBL là hình thức cung cấp trực tiếp các sản phẩm tín dụng có quy mô nhỏ cho các khách hàng là cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN).2 Đặc điểm của tín dụng bán lẻ Do TDBL chưa được định nghĩa một cách cụ thể trong pháp luật Việt Nam, vì thế đặc điểm của TDBL cũng được khái quát dựa trên đặc điểm chung của những sản phẩm của TDBL. z 7 Đối tượng được cung cấp sản phẩm TDBL rất rộng, số lượng khách hàng rất lớn, bao gồm các cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế, nên vì thế giá trị của mỗi giao dịch TDBL thường có giá trị nhỏ. Chất lượng các thông tin tài chính của các khách hàng vay thông thường không cao, đối với các khách hàng cá nhân và hộ gia đình khó xác nhận, chủ yếu do khách hàng tự cung cấp mang tính ước lượng, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ báo cáo tài chính thường không được kiểm toán.
Hồ sơ vay vốn tương đối đơn giản, tuy nhiên thẩm định hồ sơ phức tạp và phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm và đánh giá của cán bộ thẩm định hồ sơ. Cũng vì lý do trên mà TDBL có rủi ro cao, tuy nhiên do số lượng khách hàng lớn, các khoản vay có giá trị nhỏ nên rủi ro được phân tán, mức ảnh hưởng của mỗi khoản vay không lớn đối với hoạt động tổng thể của ngân hàng. Tỷ trọng cho vay trung dài hạn đối với các khoản vay bán lẻ có xu hướng cao hơn mức bình quân chung, do các nhu cầu cho vay trung hạn mua nhà ở, đất ở, mua xe ô tô, mua sắm tài sản cố định chiếm tỷ trọng tương đối cao. Khách hàng vay thường không chủ động kế hoạch hóa về dòng tiền, các nhu cầu vay tiêu dùng thông thường có thời hạn trên 12 tháng.
Nhu cầu về TDBL của khách hàng chịu tác động của nền kinh tế và phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế, tăng mạnh trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng, thu nhập tăng, chi tiêu tăng, đầu tư cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ nhỏ lẻ sinh lời tốt. Ngược lại khi nền kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng, thu nhập giảm thì các đối tượng khách hàng hạn chế vay mượn chi tiêu tiêu dùng, thu hẹp sản xuất dẫn đến nhu cầu vay vốn cũng giảm. Vì các khoản vay nhỏ lẻ, số lượng khách hàng lại lớn nên chi phí quản lý, chi phí hoạt động (mạng lưới, nhân sự, hệ thống thông tin, công nghệ) lớn, chi phí vốn trung dài hạn cao nên chi phí cho TDBL thường lớn hơn tín dụng bán buôn. Bù lại lãi suất cho vay bán lẻ thường cao hơn nên NIM (net interest margin – biên lãi thuần) của TDBL cũng cao hơn của tín dụng bán buôn.1: Bảng tổng hợp so sánh một số đặc điểm của tín dụng bán lẻ và tín dụng bán buôn Chỉ tiêu Tín dụng bán lẻ Tín dụng bán buôn Đối tượng khách hàng Các nhân, hộ gia đình, Các định chế tài chính, tổ doanh nghiệp vừa và nhỏ chức kinh tế, doanh nghiệp có quy mô lớn Giá trị giao dịch Nhỏ và vừa Lớn Số lượng khách hàng Rất nhiều Không nhiều Số lượng sản phẩm cung Nhiều Ít cấp Quy trình tín dụng Đơn giản Phức tạp Khả năng tiếp cận khách Dễ tiếp cận Khó tiếp cận hàng Biên lãi thuần Cao Thấp (Nguồn: tác giả tự tìm hiểu, phân tích và tổng hợp) 1.3 Vai trò của tín dụng bán lẻ Đối với nền kinh tế Hoạt động tín dụng nói chung có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển, và hoạt động TDBL có một số vai trò cụ thể như sau: Góp phần thúc đẩy nhanh quá trình luân chuyển vốn giữa chủ thể thừa vốn và chủ thể cần vốn, sử dụng hiệu quả nguồn vốn, giúp các cá nhân, hộ gia đình, DNVVN tiếp cận được nguồn vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, tạo công ăn việc làm, nâng cao vai trò của các thành phần kinh tế này trong nền kinh tế, đóng góp vào tăng trưởng.
Góp phần kích cầu tiêu dùng: với các sản phẩm tín dụng tiêu dùng đa dạng như cho vay mua nhà ở, đất ở, cho vay mua xe ô tô, mua sắm đồ dùng gia đình, cho vay bằng hình thức phát hành thẻ tín dụng,… đáp ứng được nhu cầu mua sắm, với thời hạn và số tiền trả nợ hợp lý với khả năng chi trả của khách hàng, kích thích người z 9 dân tăng nhu cầu chi tiêu, thúc đẩy nền kinh tế tăng cường năng lực sản xuất và tăng trưởng. (Nguyễn Văn Tiến 2009) Góp phần đẩy lùi tệ nạn tín dụng đen, cho vay nặng lãi: thay vì phải vay với lãi suất “cắt cổ” của các cá nhân, tổ chức bên ngoài, các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ có điều kiện được tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng hợp pháp, an toàn với lãi suất thấp, thời gian trả nợ phù hợp, cũng góp phần đảm bảo an ninh, trật tự xã hội. Đối với ngân hàng Phát triển hoạt động TDBL là xu thế tất yếu và cũng là phù hợp với xu hướng chung của các ngân hàng trên thế giới, giúp các ngân hàng đa dạng hóa danh mục kinh doanh, mở rộng các phân khúc khách hàng và thị trường, phân tán rủi ro. Đứng trên góc độ tài chính, hoạt động TDBL đóng góp quan trọng vào phát triển tăng dư nợ tín dụng nói chung, từ đó đem lại hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng.
Nâng cao hiệu quả hoạt động TDBL góp phần tăng trưởng dư nợ, đồng thời TDBL thường có lãi suất cao hơn, biên lợi nhuận tốt hơn, giúp tăng lợi nhuận cho ngân hàng trong bối cảnh NHTM hoạt động vì lợi nhuận là chủ yếu. Phát triển TDBL góp phần thúc đẩy bán chéo các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ khác, là động lực để các ngân hàng đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, cải tiến chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm, xây dựng mạng lưới phân phối đa dạng, rộng khắp làm nền tảng để phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ phục vụ ngày một nhiều và tốt hơn cho khách hàng. (Nguyễn Văn Tiến 2009) Đối với khách hàng Với khả năng tiếp cận được nguồn vốn cần thiết, khách hàng có thể phát huy được tiềm năng của các nguồn lực tự có vào hoạt động sản xuất kinh doanh một cách hợp lý vào hiệu quả nhất. Giúp khách hàng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần mà không phải chờ và tiết kiệm quá lâu, tạo điều kiện nâng cao dân trí, hình thành thói quen sử dụng sản phẩm ngân hàng hiện đại, phù hợp với tình hình phát kiển kinh tế xã hội của đất nước.
z 10 Giúp khách hàng tiếp cận được nguồn vốn lành mạnh, hợp pháp, tránh rơi vào bẫy tín dụng đen, được vay vốn với thời hạn và nguồn trả nợ hợp lý, đảm bảo an toàn tài chính cho khách hàng.2 Cơ sở luận về hiệu quả hoạt động tín dụng bán lẻ 1.1 Quan điểm về hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng Hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng nói chung được thể hiện tương quan giữa các kết quả hoạt động tín dụng ứng với một mức chi phí thực hiện hoạt động tín dụng nhất định. Hoạt động tín dụng càng hiệu quả, thì các kết quả tín dụng mà ngân hàng đạt được càng lớn ứng với cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin, nguồn nhân sự và nguồn vốn đầu vào nhất định. Tuy nhiên, khác các hoạt động sản xuất kinh doanh khác, sản phẩm tín dụng không cho ra kết quả ngay khi ngân hàng bán sản phẩm tín dụng cho khách hàng, ngân hàng chỉ thu được chi phí đã bỏ ra và lãi khi khách hàng tất toán khoản tín dụng, do vậy, doanh thu, lãi tại một thời điểm chưa phản ánh đúng kết quả, chi phí của hoạt động tín dụng. Các yếu tố quyết định khả năng thu hồi gốc và lãi khoản cho vay là vấn đề quyết định.
Ngoài ra, do ngân hàng sử dụng phần lớn vốn đi vay để cho vay và hoạt động của ngân hàng có tác động mạnh mẽ tới vấn đề ổn định vĩ mô, tới môi trường kinh doanh, hoạt động của khách hàng, nên sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng cũng sẽ quyết định không chỉ chi phí đầu vào, khả năng tạo nguồn, mà cả các kết quả tín dụng. Vì vậy, mục tiêu hoạt động đối với ngân hàng thường không phải chỉ là lợi nhuận mà cả vấn đề kiểm soát chất lượng tín dụng lành mạnh, an toàn. Hiệu quả tín dụng ngân hàng còn được xem xét ở góc độ kinh tế và góc độ thương hiệu, uy tín. Hiệu quả tín dụng đứng trên góc độ kinh tế đó là các khoản lợi nhuận mang lại từ hoạt động tín dụng bởi vì khi ngân hàng có được lợi nhuận từ việc cấp tín dụng có nghĩa việc cấp tín dụng đem lại lợi ích kinh tế cho ngân hàng.