CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KHÁCH HÀNG LÀ DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp thương mại và ảnh hưởng của nó tới phát triển khách hàng là doanh nghiệp thương mại trong hoạt động của các ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại doanh nghiệp thương mại là khách hàng của Ngân hàng thương mại Khái niệm doanh nghiệp thương mại Doanh nghiệp thương mại ra đời do sự phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa trong sản xuất: Một bộ phận những người sản xuất tách riêng ra chuyên đưa hàng ra thị trường để bán, công việc đó trở nên cố định đối với một số người và dần phát triển nhanh chóng thành các đơn vị, tổ chức kinh tế chuyên làm nhiệm vụ mua bán hàng hóa để thu lợi nhuận. Những người đó được gọi là thương nhân. Đầu tiên doanh nghiệp thương mại được xem như là doanh nghiệp chủ yếu thực hiện các công việc mua bán hàng hóa (T-H-T’) sau đó hoạt động mua bán phát triển và trở nên phức tạp, đa dạng hơn, lúc này xuất hiện dịch vụ thương mại và xúc tiến thương mại, do đó doanh nghiệp thương mại được hiểu là doanh nghiệp chủ yếu thực hiện các hoạt động thương mại. Hoạt động thương mại hiện nay chủ yếu được phân thành 3 nhóm: Mua bán hàng hóa, dịch vụ thương mại và xúc tiến thương mại, trong đó dịch vụ thương mại gắn liền với việc mua bán hàng hóa, xúc tiến thương mại là hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy việc mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ thương mại.
Doanh nghiệp thương mại có thể thực hiện một hoặc nhiều hoạt động thương mại. Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Doanh nghiệp thương mại có thể thực hiện các hoạt động khác như sản xuất, cung ứng dịch vụ, đầu tư tài chính,…nhưng tỷ trọng của hoạt động 5 thương mại vẫn là chủ yếu. Doanh nghiệp thương mại khác với các hộ tư thương hoặc các cá nhân hoạt động thương mại trên thị trường.
Doanh nghiệp thương mại là một tổ chức độc lập, có phân công lao động rõ ràng, được quản lý bằng một bộ máy chính thức, có thể thực hiện các hoạt động thương mại một cách độc lập với thủ tục đơn giản, nhanh chóng. Như vậy, từ những phân tích ở trên ta có thể hiểu: Doanh nghiệp thương mại là doanh nghiệp chuyên hoạt động trong lĩnh vực mua bán hàng hóa và thực hiện các hoạt động dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng để thu lợi nhuận. Đó chính là các tổ chức kinh tế được Nhà nước thành lập hoặc thừa nhận đảm nhiệm chức năng lưu thông hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Phân loại doanh nghiệp thương mại Để phân loại doanh nghiệp, người ta phân theo những hệ thống tiêu chí khác nhau.
Cụ thể như sau: Căn cứ vào tính chất của mặt hàng kinh doanh, doanh nghiệp thương mại được chia thành 3 loại: Thứ nhất, doanh nghiệp kinh doanh chuyên môn hóa: Là các doanh nghiệp chuyên kinh doanh một hoặc một số mặt hàng có cùng công dụng, trạng thái hoặc phục vụ cho những nhu cầu nhất định trong nền kinh tế quốc dân. Ví dụ các Tổng công ty của Bộ Thương mại hoặc Tổng công ty Vật tư nông nghiệp. Thứ hai, doanh nghiệp kinh doanh tổng hợp: Là các doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng có công dụng, trạng thái khác nhau phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trên phạm vi lãnh thổ nhất định. Thứ ba, doanh nghiệp kinh doanh đa dạng hóa (hỗn hợp): Là các doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng (giống kinh doanh tổng hợp) và nhiều lĩnh vực kinh doanh như sản xuất, dịch vụ, kinh doanh hàng hóa.
Căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp, doanh nghiệp thương mại được chia thành 3 loại: Doanh nghiệp thương mại quy mô nhỏ; doanh nghiệp thương mại quy mô vừa; doanh nghiệp thương mại quy mô lớn Căn cứ theo cấp quản lý, doanh nghiệp thương mại được chia thành 2 loại: Doanh nghiệp thương mại do các bộ, ngành Trung ương quản lý và Doanh nghiệp 6 thương mại do địa phương quản lý như các doanh nghiệp thương mại thuộc tỉnh (thành phố), thuộc quận, huyện, thị trấn, thị xã quản lý. Căn cứ theo chế độ sở hữu tư liệu sản xuất, doanh nghiệp thương mại được chia thành 6 loại: Thứ nhất, doanh nghiệp thương mại Nhà nước: Là doanh nghiệp thương mại được Nhà nước đầu tư hoặc cấp 100% vốn kinh doanh. Thứ hai, doanh nghiệp thương mại tập thể: Là doanh nghiệp thương mại mà vốn kinh doanh do tập thể người lao động tự nguyện góp vào để kinh doanh. Thứ ba, các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh.
Thứ tư, doanh nghiệp tư nhân: Do các tư nhân trong nước bỏ vốn kinh doanh. Thứ năm, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Thứ sáu, hệ thống người buôn bán nhỏ: Là hộ cá thể có các cửa hàng, quầy hàng kinh doanh các hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Chức năng của doanh nghiệp thương mại Doanh nghiệp thương mại có các chức năng chủ yếu sau: Một là, thực hiện chức năng lưu chuyển hàng hóa Sản xuất ra sản phẩm là khâu đầu tiên trong chuỗi cung ứng hàng hóa.
Ở thời kỳ trước, khi nền kinh tế còn giản đơn, hàng hóa có thể được chuyển trực tiếp từ ngưởi sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng. Tuy nhiên hiện này, cùng với sự đa dạng hóa của nền kinh tế, hình thức lưu chuyển như vậy không còn tối ưu nữa. Vì vậy, các doanh nghiệp thương mại đã ra đời để thực hiện chức năng lưu chuyển hàng hóa, là trung gian giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Hai là, chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông Quá trình sản xuất theo nghĩa rộng gồm 4 khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi (lưu thông) và tiêu dùng.
Bốn khâu này có quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau trong đó mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng là mối quan hệ cơ bản nhất. Kinh doanh thương mại nằm ở khâu trung gian giữa một bên là sản xuất và phân phối, một bên là tiêu dùng sản phẩm. Trong quá trình trao đổi hàng hóa, lưu thông sản phẩm từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng, các doanh nghiệp thương mại phải thực hiện phân loại, chọn lọc, đóng gói, vận chuyển, dự trữ, bảo quản sản 7 phẩm, hướng dẫn sử dụng sản phẩm, sửa chữa, lắp ráp, bảo hành sản phẩm…Đây chính là chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong quá trình lưu thông. Chức năng này nhằm hoàn thiện sản phẩm ở dạng tốt nhất để sản phẩm thích hợp với nhu cầu của người tiêu dùng.
Với chức năng này, đòi hỏi các doanh nghiệp thương mại cũng phải hiểu biết tính chất kỹ thuật của sản phẩm, phải hiểu lĩnh vực sản xuất (nguồn hàng) và phải hiểu được công dụng của sản phẩm và nhu cầu của lĩnh vực tiêu dùng. Như vậy, kinh doanh thương mại có chức năng lưu thông hàng hóa là chức năng kinh tế chủ yếu, nhưng gắn rất chặt chẽ với chức năng kỹ thuật sản phẩm, tức là chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông. Mặt khác, trong quá trình thực hiện lưu thông hàng hóa, các doanh nghiệp thương mại còn phải thực hiện việc tổ chức sản xuất, đầu tư, khai thác tạo nguồn hàng để tạo ra các sản phẩm thay thế hàng ngoại nhập có giá cả phải chăng để chủ động trong nguồn hàng và thích hợp với nhu cầu của khách hàng. Ba là, chức năng dự trữ hàng hóa và điều hòa cung – cầu Chức năng của kinh doanh thương mại là mua bán hàng hóa để cung ứng đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, đúng chất lượng, số lượng, ở những nơi thuận tiện cho khách hàng.
Nhờ có hàng hóa dự trữ mà doanh nghiệp thương mại có thể thỏa mãn đầy đủ, kịp thời về nhu cầu hàng hóa của khách hàng. Nhờ có hệ thống mạng lưới rộng (kho, trạm, cửa hàng, quầy hàng, siêu thị, đại lý…) mà doanh nghiệp thương mại có thể đảm bảo thuận lợi cho khách hàng mua những hàng hóa cần thiết, vừa tiết kiệm được thời gian, vừa không phải đi quá xa. Để thỏa mãn nhu cầu và khả năng của khách hàng, doanh nghiệp thương mại phải mua những mặt hàng có chất lượng tốt, đúng yêu cầu của khách hàng, nhưng phải ở nơi có nguồn hàng phong phú, nhiều, rẻ, sau khi cộng với chi phí lưu thông đưa đến thị trường bán, khách hàng vẫn có thể chấp nhận được. Điều này, một cách tự nhiên, kinh doanh thương mại thực hiện việc điều hòa cung cầu từ nơi có hàng hóa nhiều, phong phú, rẻ đến nơi có hàng hóa ít, khan hiếm, đắt hoặc mua hàng khi thời vụ và bán hàng quanh năm, cung cầu hàng hóa được điều hòa.
8 Như vậy có thể nói, doanh nghiệp thương mại là một tổ chức thực hiện các chức năng thương mại để kiếm lời và các chức năng đó cụ thể là: chức năng lưu chuyển hàng hóa, chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông, chức năng dự trữ hàng hóa và điều hòa cung – cầu. Đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp thương mại Doanh nghiệp thương mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh hàng hóa nhằm chuyển hàng hóa từ nơi sản cuất đến nơi tiêu dùng Khác với doanh nghiệp sản xuất lấy việc sản xuất ra sản phẩm theo nhu cầu tiêu dùng là hoạt động chính, doanh nghiệp thương mại ra đời và hoạt động trong lĩnh vực lưu thông nhằm chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng một cách thuận lợi nhất và thực hiện các hoạt động dịch vụ phục vụ khách hàng. Đây là hoạt động cơ bản nhất của doanh nghiệp thương mại, quyết định chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy và quy định phương thức hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, vì hoạt động trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa nên điều này quyết định đến cơ cấu vốn kinh doanh, tính chất chi phí kinh doanh và phương thức tìm kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp.
Do chỉ làm nhiệm vụ lưu chuyển hàng hóa nên vốn lưu động thường chiếm tỷ lệ lớn (trên 80%) trong vốn kinh doanh, tính chất chu chuyển vốn lưu động nhanh hơn đặc biệt phần vốn cho dự trữ hàng hóa.