Luận văn thạc sĩ pháp luật về góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp việt nam

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu pháp luật về góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp việt nam, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2023

140
17
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc góp vốnmua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại doanh nghiệp Việt Nam trở thành một chủ đề quan trọng. Hình thức đầu tư này không chỉ giúp tăng cường nguồn vốn cho doanh nghiệp mà còn tạo cơ hội tiếp cận công nghệ mới và cải thiện quản lý. Theo nghiên cứu, việc góp vốn từ nhà đầu tư nước ngoài đã góp phần đáng kể vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Đặc biệt, các doanh nghiệp Việt Nam có thể mở rộng thị trường và nâng cao sức cạnh tranh thông qua việc hợp tác với các nhà đầu tư quốc tế. "Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài là hết sức quan trọng trong việc tạo nên sức mạnh của tài chính".

1.1. Khái niệm và vai trò của nhà đầu tư nước ngoài

Khái niệm nhà đầu tư nước ngoài được định nghĩa là cá nhân hoặc tổ chức không có quốc tịch Việt Nam, có quyền tham gia vào các hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Vai trò của họ trong nền kinh tế là rất lớn, không chỉ về mặt tài chính mà còn về mặt công nghệ và quản lý. Nhà đầu tư nước ngoài thường mang đến những mô hình kinh doanh tiên tiến, giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh. "Sự cần thiết huy động vốn theo hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam" đã được khẳng định qua nhiều nghiên cứu và thực tiễn.

II. Thực trạng pháp luật về góp vốn mua cổ phần

Pháp luật về góp vốnmua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại doanh nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều bất cập trong quy định pháp luật. Hệ thống pháp luật hiện hành chưa đồng bộ, dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện các thủ tục đầu tư. "Thủ tục hành chính còn rườm rà đối với nhà đầu tư nước ngoài" là một trong những vấn đề lớn cần được khắc phục. Việc cải thiện quy định pháp luật sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam.

2.1. Quy định về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài

Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện góp vốn, mua cổ phần được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều nhà đầu tư vẫn gặp khó khăn trong việc hiểu và thực hiện các quy định này. "Quy định về mức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam" cần được làm rõ hơn để tránh những hiểu lầm và tranh chấp không đáng có.

III. Đề xuất hoàn thiện pháp luật về góp vốn mua cổ phần

Để thu hút nhà đầu tư nước ngoài, việc hoàn thiện pháp luật về góp vốn, mua cổ phần là rất cần thiết. Các quy định cần được điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn và yêu cầu phát triển kinh tế. "Một số giải pháp hoàn thiện các quy định về pháp luật góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam" sẽ giúp tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi hơn. Cần có những chính sách khuyến khích và hỗ trợ cho nhà đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao tính cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.

3.1. Giải pháp cải cách thủ tục hành chính

Cải cách thủ tục hành chính là một trong những giải pháp quan trọng để thu hút nhà đầu tư nước ngoài. Việc đơn giản hóa các quy trình và giảm thiểu thời gian xử lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài. "Thủ tục góp vốn, mua cổ phần cần được đơn giản hóa để tăng tính khả thi và hấp dẫn của thị trường Việt Nam".

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ pháp luật về góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT GÓP VỐN, MUA CỔ PHẦN CỦA NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 1. Quan niệm về góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam 1. Góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam 1. Các loại tài sản đưa vào góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam Nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn, mua cổ phần theo các hình thức: tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty.

Vấn đề này được quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2005. “Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty. Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty.” [44, Khoản 4 Điều 4] "Cổ phần, trái phiếu của công ty cổ phần có thể được mua bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác quy định tại Điều lệ công ty và phải được thanh toán đủ một lần." [44, Điều 89] Riêng đối với trường hợp mua cổ phần trong doanh nghiệp 100% thực hiện cổ phần hóa, trong ngân hàng thương mại Việt Nam và việc góp vốn, mua cổ phần trên thị trường chứng khoán Việt Nam thì các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần vào các doanh nghiệp Việt Nam bằng đồng Việt Nam. Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 cũng quy định vốn đầu tư bao gồm: Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi và các tài sản hợp pháp khác để thực 8 hiện hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp.

Tài sản hợp pháp bao gồm : Cổ phần, cổ phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác; Trái phiếu, khoản nợ và các hình thức vay nợ khác; Các quyền theo hợp đồng; Công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ; Bất động sản; quyền đối với bất động sản.Cả Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 liệt kê khá đầy đủ các loại tài sản góp vốn, mua cổ phần, tuy nhiên, tác giả chỉ đi sâu phân tích một số loại tài sản góp vốn, mua cổ phần điển hình hoặc pháp luật Việt Nam có quy định rõ hơn như tiền Việt Nam, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ và bí quyết kỹ thuật. Thứ nhất, đối với góp vốn, mua cổ phần bằng tiền Việt Nam Nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn hình thức này để góp vốn, mua cổ phần vào trong doanh nghiệp Việt Nam. Tiền Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành, đơn vị tiền tệ là “đồng”, ký hiệu quốc gia là “đ”, ký hiệu quốc tế là "VND". Nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hợp pháp tiền Việt Nam có quyền thực hiện góp vốn, mua cổ phần, chẳng hạn: Tiền Việt Nam có nguồn gốc từ đầu tư tại Việt Nam, tiền Việt Nam được đổi tại các ngân hàng, tiền Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài vay của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.

Khi góp vốn, mua cổ phần, nhà đầu tư nước ngoài đã “thực hiện quyền định đoạt (chuyển giao quyền quyền sở hữu tiền cho doanh nghiệp Việt Nam) chứ không phải là thực hiện quyền sử dụng”.358] Thứ hai, đối với góp vốn, mua cổ phần bằng giá trị quyền sử dụng đất "Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê có các quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuê và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh trong thời hạn thuê đất. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất, thuê lại đất trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế có quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuê, đất thuê lại và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất để hợp tác liên doanh với tổ chức, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài trong thời hạn thuê đất, thuê lại đất đối với trường hợp đã trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, thời gian thuê lại”.[46, Điểm đ, Khoản 3 Điều 119; Điểm c, Khoản 2 Điều 120] 9 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam giao đất có thu tiền sử dụng đất và người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế có quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh với tổ chức, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật. “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” [48]. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài có gốc Việt Nam nhưng mang quốc tịch nước ngoài thì được coi là cá nhân nước ngoài.

Do đó, tác giả đã đề cập đến đối tượng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong phần này. “Người sử dụng đất được thực hiện quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây: Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Đất không có tranh chấp; Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; Trong thời hạn sử dụng đất”.[46, Điều 106] Tuy nhiên, đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc một trong số các đối tượng theo luật định (được quy định tại Khoản 1 Điều 121 Luật Đất đai năm 2003; Điều 2 Nghị quyết số 19/2008/NQ-QH12 ngày 03/06/2008 của Quốc hội về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam) tuy được sở hữu nhà ở là căn hộ chung cư trong dự án phát triển nhà ở thương mại nhưng “chỉ được dùng nhà ở vào mục đích để ở, không được dùng để cho thuê, làm văn phòng hoặc sử dụng vào mục đích khác”.[47, Khoản 1 Điều 6] Thứ ba, đối với góp vốn, mua cổ phần bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ Góp vốn, mua cổ phần bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ được các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn, tuy nhiên chưa được thực hiện nhiều tại Việt Nam. Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn.

Bộ Tài chính hướng dẫn việc định giá góp vốn bằng sở hữu trí tuệ. 10 “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu” [49, Khoản 2 Điều 4]. “Hiểu một cách đơn giản, quyền tác giả cho phép tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả được độc quyền khai thác tác phẩm, chống lại việc sao chép bất hợp pháp. Về khái niệm pháp lý, quyền tác giả là tổng hợp các quy phạm quy định và bảo vệ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học”[32, tr.

Nhà đầu tư nước ngoài có quyền góp vốn bằng giá trị quyền tác giả với điều kiện họ có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam hoặc có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam hoặc có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên. Chủ sở hữu quyền tác giả có thể là tác giả hoặc một trong các đồng tác giả hoặc là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả hoặc là người thừa kế hoặc là người được chuyển giao quyền. Để thực hiện góp vốn bằng giá trị quyền tác giả, nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp Việt Nam phải ký kết hợp đồng chuyển giao quyền tác giả. Đối với trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì việc chuyển nhượng quyền tác giả phải được sự đồng ý bằng văn bản của các đồng tác giả.

Còn đối với trường hợp, quyền tác giả thuộc sở chung thì việc chuyển nhượng quyền tác giả phải được sự đồng ý bằng văn bản của các đồng chủ sở hữu. “Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa” [49, Khoản 3 Điều 4]. Nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu quyền liên quan thì được góp vốn, mua cổ phần vào các doanh nghiệp Việt Nam. Theo đó, các bên sẽ ký kết hợp đồng chuyển giao quyền liên quan để đưa giá trị quyền liên quan trở thành tài sản góp vốn, mua cổ phần.

“Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh” [49, Khoản 4 Điều 4]. Tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền góp vốn, mua cổ phần bằng giá trị quyền SHCN phải đáp ứng đủ các điều kiện là chủ sở hữu đối tượng SHCN tương ứng đang được bảo hộ tại Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ Pháp Luật: Góp Vốn Mua Cổ Phần Của Nhà Đầu Tư Nước Ngoài Tại Doanh Nghiệp Việt Nam là một nghiên cứu chuyên sâu về khía cạnh pháp lý liên quan đến việc góp vốn và mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp Việt Nam. Tài liệu này không chỉ phân tích các quy định pháp luật hiện hành mà còn đưa ra những nhận định về thực trạng, thách thức và cơ hội trong quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Độc giả sẽ được cung cấp cái nhìn toàn diện về cơ chế pháp lý, từ đó hiểu rõ hơn về cách thức nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc vào Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ 21 thực trạng và triển vọng, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn cụ thể về dòng vốn FDI từ một quốc gia cụ thể. Ngoài ra, Báo cáo nghiên cứu khoa học the impacts of FDI inflows on labor market evidence from Vietnam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của FDI đến thị trường lao động Việt Nam. Cuối cùng, Luận văn tốt nghiệp giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội là tài liệu hữu ích để khám phá các giải pháp cụ thể trong việc thu hút FDI tại một địa phương.