Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT GÓP VỐN, MUA CỔ PHẦN CỦA NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 1. Quan niệm về góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam 1. Góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam 1. Các loại tài sản đưa vào góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam Nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn, mua cổ phần theo các hình thức: tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty.
Vấn đề này được quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2005. “Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty. Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty.” [44, Khoản 4 Điều 4] "Cổ phần, trái phiếu của công ty cổ phần có thể được mua bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác quy định tại Điều lệ công ty và phải được thanh toán đủ một lần." [44, Điều 89] Riêng đối với trường hợp mua cổ phần trong doanh nghiệp 100% thực hiện cổ phần hóa, trong ngân hàng thương mại Việt Nam và việc góp vốn, mua cổ phần trên thị trường chứng khoán Việt Nam thì các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần vào các doanh nghiệp Việt Nam bằng đồng Việt Nam. Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 cũng quy định vốn đầu tư bao gồm: Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi và các tài sản hợp pháp khác để thực 8 hiện hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp.
Tài sản hợp pháp bao gồm : Cổ phần, cổ phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác; Trái phiếu, khoản nợ và các hình thức vay nợ khác; Các quyền theo hợp đồng; Công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ; Bất động sản; quyền đối với bất động sản.Cả Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 liệt kê khá đầy đủ các loại tài sản góp vốn, mua cổ phần, tuy nhiên, tác giả chỉ đi sâu phân tích một số loại tài sản góp vốn, mua cổ phần điển hình hoặc pháp luật Việt Nam có quy định rõ hơn như tiền Việt Nam, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ và bí quyết kỹ thuật. Thứ nhất, đối với góp vốn, mua cổ phần bằng tiền Việt Nam Nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn hình thức này để góp vốn, mua cổ phần vào trong doanh nghiệp Việt Nam. Tiền Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành, đơn vị tiền tệ là “đồng”, ký hiệu quốc gia là “đ”, ký hiệu quốc tế là "VND". Nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hợp pháp tiền Việt Nam có quyền thực hiện góp vốn, mua cổ phần, chẳng hạn: Tiền Việt Nam có nguồn gốc từ đầu tư tại Việt Nam, tiền Việt Nam được đổi tại các ngân hàng, tiền Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài vay của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.
Khi góp vốn, mua cổ phần, nhà đầu tư nước ngoài đã “thực hiện quyền định đoạt (chuyển giao quyền quyền sở hữu tiền cho doanh nghiệp Việt Nam) chứ không phải là thực hiện quyền sử dụng”.358] Thứ hai, đối với góp vốn, mua cổ phần bằng giá trị quyền sử dụng đất "Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê có các quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuê và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh trong thời hạn thuê đất. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất, thuê lại đất trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế có quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuê, đất thuê lại và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất để hợp tác liên doanh với tổ chức, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài trong thời hạn thuê đất, thuê lại đất đối với trường hợp đã trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, thời gian thuê lại”.[46, Điểm đ, Khoản 3 Điều 119; Điểm c, Khoản 2 Điều 120] 9 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam giao đất có thu tiền sử dụng đất và người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế có quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh với tổ chức, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật. “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” [48]. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài có gốc Việt Nam nhưng mang quốc tịch nước ngoài thì được coi là cá nhân nước ngoài.
Do đó, tác giả đã đề cập đến đối tượng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong phần này. “Người sử dụng đất được thực hiện quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây: Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Đất không có tranh chấp; Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; Trong thời hạn sử dụng đất”.[46, Điều 106] Tuy nhiên, đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc một trong số các đối tượng theo luật định (được quy định tại Khoản 1 Điều 121 Luật Đất đai năm 2003; Điều 2 Nghị quyết số 19/2008/NQ-QH12 ngày 03/06/2008 của Quốc hội về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam) tuy được sở hữu nhà ở là căn hộ chung cư trong dự án phát triển nhà ở thương mại nhưng “chỉ được dùng nhà ở vào mục đích để ở, không được dùng để cho thuê, làm văn phòng hoặc sử dụng vào mục đích khác”.[47, Khoản 1 Điều 6] Thứ ba, đối với góp vốn, mua cổ phần bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ Góp vốn, mua cổ phần bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ được các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn, tuy nhiên chưa được thực hiện nhiều tại Việt Nam. Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn.
Bộ Tài chính hướng dẫn việc định giá góp vốn bằng sở hữu trí tuệ. 10 “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu” [49, Khoản 2 Điều 4]. “Hiểu một cách đơn giản, quyền tác giả cho phép tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả được độc quyền khai thác tác phẩm, chống lại việc sao chép bất hợp pháp. Về khái niệm pháp lý, quyền tác giả là tổng hợp các quy phạm quy định và bảo vệ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học”[32, tr.
Nhà đầu tư nước ngoài có quyền góp vốn bằng giá trị quyền tác giả với điều kiện họ có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam hoặc có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam hoặc có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên. Chủ sở hữu quyền tác giả có thể là tác giả hoặc một trong các đồng tác giả hoặc là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả hoặc là người thừa kế hoặc là người được chuyển giao quyền. Để thực hiện góp vốn bằng giá trị quyền tác giả, nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp Việt Nam phải ký kết hợp đồng chuyển giao quyền tác giả. Đối với trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì việc chuyển nhượng quyền tác giả phải được sự đồng ý bằng văn bản của các đồng tác giả.
Còn đối với trường hợp, quyền tác giả thuộc sở chung thì việc chuyển nhượng quyền tác giả phải được sự đồng ý bằng văn bản của các đồng chủ sở hữu. “Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa” [49, Khoản 3 Điều 4]. Nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu quyền liên quan thì được góp vốn, mua cổ phần vào các doanh nghiệp Việt Nam. Theo đó, các bên sẽ ký kết hợp đồng chuyển giao quyền liên quan để đưa giá trị quyền liên quan trở thành tài sản góp vốn, mua cổ phần.
“Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh” [49, Khoản 4 Điều 4]. Tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền góp vốn, mua cổ phần bằng giá trị quyền SHCN phải đáp ứng đủ các điều kiện là chủ sở hữu đối tượng SHCN tương ứng đang được bảo hộ tại Việt Nam.