Tổng quan nghiên cứu
Giai đoạn 1997–2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của tỉnh Bình Dương đạt 15%/năm, đưa quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn tăng gần 6 lần, vượt trội so với mức tăng trưởng 10,4% của Thành phố Hồ Chí Minh và 6,9% của cả nước. Quy mô dân số tăng vọt từ 0,67 triệu người năm 1997 lên 1,74 triệu người năm 2012, thúc đẩy tỷ lệ đô thị hóa tăng nhanh từ 27% lên 65%. Sự chuyển dịch công nghiệp hóa mạnh mẽ đã đưa địa phương trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hàng đầu Việt Nam.
Tuy nhiên, áp lực nâng cấp đô thị để trở thành thành phố trực thuộc Trung ương loại I trước năm 2020 theo Quyết định 893/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đang đặt Bình Dương trước nhiều thách thức tăng trưởng phức tạp. Quá trình mở rộng không gian diễn ra chủ yếu theo chiều rộng, khai thác cơ chế "đổi đất lấy cơ sở hạ tầng" tiềm ẩn rủi ro lãng phí tài nguyên và tạo áp lực quá tải lên mạng lưới giao thông. Việc 88,4% số hộ gia đình phụ thuộc vào xe máy trong khi hệ thống vận tải hành khách công cộng mới chỉ đáp ứng xấp xỉ 1% nhu cầu đi lại cho thấy sự lệch pha nghiêm trọng giữa tốc độ đô thị hóa và chất lượng hạ tầng xã hội.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm nhận diện các điểm nghẽn cốt lõi trong quy hoạch sử dụng đất, mô hình phát triển không gian và quản trị vận tải đô thị tại Bình Dương trong giai đoạn 1997 đến 2014, với tầm nhìn định hướng đến năm 2030. Trọng tâm nghiên cứu tập trung vào trục không gian kết nối giữa trung tâm lịch sử Thủ Dầu Một và Thành phố mới Bình Dương quy mô 1.000 ha thuộc Khu liên hợp 4.196 ha. Bằng việc phân tích các chỉ số phát triển đô thị thực chứng, nghiên cứu đề xuất lộ trình chuyển đổi từ mô hình đô thị phân tán sang mô hình tăng trưởng thông minh kết hợp phát triển định hướng giao thông công cộng, giúp tối ưu hóa nguồn lực tài chính công và ngăn ngừa nguy cơ tổn thất kinh tế hàng ngàn tỷ đồng do ùn tắc và ô nhiễm môi trường.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp của ba nền tảng lý luận kinh tế và quy hoạch đô thị hiện đại:
Lý thuyết Tăng trưởng thông minh (Smart Growth), xuất phát từ Chương trình nghị sự 21 tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát triển năm 1992 (UNCED) và được Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ chuẩn hóa năm 2003, nhấn mạnh việc phát triển đô thị nén, mật độ cao, tích hợp đa chức năng và bảo tồn tài nguyên đất đai nhằm kiểm soát chi phí mở rộng hạ tầng.
Mô hình Phát triển theo định hướng giao thông công cộng (Transit Oriented Development - TOD) theo trường phái của Cervero và Sullivan, định vị trạm trung chuyển vận tải khối lượng lớn làm hạt nhân trung tâm trong bán kính tiếp cận đi bộ từ 400 đến 800 mét. Mô hình kết hợp chặt chẽ bốn đặc tính: nhu cầu sử dụng đất hỗn hợp, quy mô thị trường phân cấp, mật độ cư trú cao và hoạt động kinh tế năng động.
Lý thuyết Quản lý nhu cầu giao thông (Transportation Demand Management - TDM) và Kinh tế học đô thị, giải thích mối quan hệ đánh đổi giữa chi phí đi lại, giá trị thời gian và tiện ích biên của đất đai, qua đó xác định ngoại tác tiêu cực từ tình trạng phụ thuộc phương tiện cơ giới cá nhân.
Khung khái niệm then chốt bao gồm: Hình thái đô thị (Urban Form), Mật độ gộp và mật độ thuần, Đô thị hóa theo chiều sâu so với Đô thị hóa theo chiều rộng, và Chi phí tắc nghẽn biên.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định tính chuyên sâu kết hợp đánh giá chính sách công và đối chuẩn mô hình quốc tế (benchmarking).
Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ chuỗi số liệu thống kê kinh tế - xã hội liên tục 15 năm (giai đoạn 1997–2012) của tỉnh Bình Dương, 18 văn bản quy hoạch không gian và quy hoạch giao thông của địa phương, cùng dữ liệu đối chứng từ 5 đô thị tiêu biểu trên thế giới gồm Curitiba (Brazil), Bogotá (Colombia), Copenhagen (Đan Mạch), Tokyo (Nhật Bản) và Adelaide (Úc).
Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng để trích xuất hệ thống chỉ tiêu từ các nguồn dữ liệu thứ cấp có độ tin cậy cao: Niên giám Thống kê tỉnh Bình Dương, Tổng cục Thống kê, Báo cáo Quy hoạch chung xây dựng đô thị Bình Dương của Liên danh tư vấn Arep Ville năm 2012, và Quy hoạch tổng thể Giao thông vận tải của Viện Chiến lược và Phát triển Giao thông Vận tải năm 2012.
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính đa chiều kết hợp phân tích đối chuẩn xuất phát từ tính chất đặc thù của dữ liệu quy hoạch tại Việt Nam, nơi các chỉ tiêu dự báo thường mang tính lạc quan hành chính và có sự chênh lệch lớn giữa số liệu phê duyệt và thực tế vận hành. Phương pháp này cho phép bóc tách bản chất của các quyết định phân bổ nguồn lực công, đối chiếu chi phí cơ hội giữa các phương án công nghệ vận tải, và xác lập tính khả thi của chính sách phát triển trong dài hạn từ năm 2014 đến 2030.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình điều tra thực chứng xác định bốn thách thức mang tính cấu trúc trong sự phát triển của đô thị Bình Dương:
Thứ nhất, tồn tại sai số nghiêm trọng trong xác định dân số và mật độ đô thị do phụ thuộc vào quyết định hành chính. Dân số thành thị của tỉnh tăng đột biến 111,7% chỉ sau một đêm, từ 512 nghìn người năm 2010 vọt lên 1.084 nghìn người năm 2011 nhờ việc mở rộng ranh giới hành chính các đô thị để đáp ứng tiêu chí phân loại đô thị theo Nghị định 42/2009/NĐ-CP. Mặc dù diện tích đất xây dựng đô thị dự kiến mở rộng thêm 169%, từ 195 km² năm 2010 lên 525 km² năm 2030, mật độ dân số thực tế lại giảm từ 2.615 người/km² xuống còn 1.833 người/km². Điều này chứng minh quy hoạch sử dụng đất đang theo xu hướng dàn trải diện tích quá mức cần thiết, đi ngược lại tiêu chuẩn phát triển mật độ cao của mô hình tăng trưởng thông minh.
Thứ hai, thị trường bất động sản bộc lộ nghịch lý lệch pha cung cầu và tạo ra các khu đô thị vắng bóng cư dân. Thành phố mới Bình Dương quy mô 1.000 ha với trung tâm hành chính tập trung trị giá 1,2 tỷ USD được quy hoạch phục vụ 150 nghìn dân định cư và 400 nghìn lao động thường xuyên, nhưng hiện rơi vào tình trạng hoang vắng. Thị trường bất động sản phân khúc chính thức chỉ cung cấp 11 nghìn căn hộ cao cấp trong 5 năm (như Rich Town giá 4,5 tỷ đồng/căn, Tokyu Garden City giá 21 triệu đồng/m²), trong khi dân số cơ học tăng thêm 400 nghìn người, tạo ra nhu cầu thực tế khoảng 80 nghìn căn hộ bình dân. Người lao động nhập cư thu nhập thấp buộc phải chen chúc trong các khu nhà trọ tự phát, không được quy hoạch đồng bộ.
Thứ ba, dự báo nhu cầu giao thông mang tính lạc quan quá mức dẫn đến nguy cơ lãng phí vốn đầu tư công. Viện Chiến lược và Phát triển Giao thông Vận tải dự báo tổng nhu cầu vốn giao thông vận tải giai đoạn 2016-2020 lên tới 253 nghìn tỷ đồng, trong đó vốn cho hệ thống đường sắt đô thị (Monorail và Metro tốc hành) chiếm 225 nghìn tỷ đồng, tương đương trung bình 50 nghìn tỷ đồng mỗi năm. Giả định tăng trưởng kinh tế danh nghĩa 20%/năm thì nguồn vốn này chiếm tới 22% tổng GRDP của toàn tỉnh trong cùng thời kỳ, vượt xa ngưỡng trần đầu tư hạ tầng giao thông bình quân 5% GDP của các đô thị trên thế giới. Tốc độ tăng trưởng lượt hành khách luân chuyển dự báo từ 39,5% đến 45,2%/năm là thiếu cơ sở khoa học khi so sánh với tốc độ tăng trưởng GDP thực tế.
Thứ tư, cấu trúc đô thị tạo điều kiện tuyệt đối cho phương tiện cá nhân và triệt tiêu giao thông phi cơ giới. Toàn tỉnh có 0,88 triệu phương tiện cá nhân vào năm 2012 với tỷ lệ 2 người sở hữu 1 xe máy. Hệ thống vận tải công cộng với 144 xe buýt hoạt động rời rạc, thời gian giãn cách dài từ 30 đến 45 phút, chỉ đáp ứng 1% nhu cầu đi lại tương đương 30 nghìn lượt khách/ngày. Cả khu đô thị cũ Thủ Dầu Một lẫn Thành phố mới Bình Dương đều hoàn toàn thiếu vắng làn đường dành riêng cho xe đạp và vỉa hè chuẩn mực cho người đi bộ, khiến người dân không thể tiếp cận trạm trung chuyển trong bán kính đi bộ 10 phút.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân sâu xa của những bất cập trên bắt nguồn từ sự thiếu phối hợp liên ngành giữa các cơ quan quản lý nhà nước gồm Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Giao thông Vận tải và Sở Kế hoạch và Đầu tư. Cơ chế "đổi đất lấy cơ sở hạ tầng" và hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT) tạo động lực cho các tập đoàn hạ tầng mở rộng quỹ đất đô thị thương mại nhằm tối đa hóa lợi nhuận địa ốc, thay vì tối ưu hóa hiệu quả mạng lưới không gian công cộng.
So sánh quốc tế cho thấy bài học sâu sắc từ các thành phố đi trước:
- Thành phố Curitiba (Brazil) phát triển thành công hệ thống xe buýt nhanh (BRT) với chi phí đầu tư chỉ 3 triệu USD/km, giúp thu hút 45% người dân sử dụng phương tiện công cộng, 27% đi bộ và 5% đi xe đạp, đồng thời tự cân đối tài chính mà không cần trợ giá ngân sách.
- Thủ đô hành chính mới Putrajaya (Malaysia) dù đầu tư 8 tỷ USD trên diện tích 4.931 ha nhưng sau hơn một thập kỷ quy mô dân số thực tế chỉ đạt xấp xỉ 60 nghìn người so với mục tiêu 300 nghìn người, do khoảng cách phân tán và sự thiếu hụt các hoạt động kinh tế đô thị tích hợp.
- Thành phố Copenhagen (Đan Mạch) với quy hoạch cấu trúc "bàn tay năm ngón" đầu tư 10 triệu USD vào hạ tầng xe đạp và cắt giảm 3% chỗ đậu xe ô tô mỗi năm đã nâng tỷ lệ người dân đi xe đạp lên 37%.
Dữ liệu nghiên cứu khi được tổng hợp qua ma trận so sánh chi phí vốn đầu tư các loại hình giao thông công cộng phản ánh sự chênh lệch rõ rệt: hệ thống Metro đòi hỏi suất đầu tư 80 đến 107 triệu USD/km, Monorail từ 20 đến 47 triệu USD/km, trong khi BRT chỉ cần 3 triệu USD/km. Biểu đồ tương quan giữa tốc độ tăng trưởng luân chuyển hành khách (HK-km) và GDP cho thấy dự báo của các đồ án quy hoạch cao gấp 3 đến 4 lần ngưỡng vận hành thực tế. Đồng thời, bản đồ mật độ không gian thể hiện rõ các khu vực tập trung trên 500 người/km² chỉ chiếm khoảng 5% diện tích tự nhiên của tỉnh, phân bố hẹp dọc trục Quốc lộ 13 và ĐT741, khẳng định phương án đầu tư mạng lưới đường sắt nặng tại Bình Dương là chưa khả thi về mặt kinh tế.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm giải quyết các rào cản tăng trưởng và kiến tạo nền tảng phát triển bền vững, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:
Thứ nhất, tái cấu trúc không gian đô thị theo mô hình đô thị nén (Compact City). Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương chỉ đạo Sở Xây dựng rà soát và điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng đô thị, kiểm soát diện tích đất xây dựng đô thị dưới 300 km² đến năm 2020 thay vì mở rộng lên 525 km². Mục tiêu nâng mật độ dân số nội thị đạt từ 3.500 đến 4.000 người/km², tập trung nguồn lực phát triển theo trục hành lang kinh tế Bắc - Nam, hạn chế tối đa việc mở rộng 8 đô thị vệ tinh mật độ thấp tại khu vực phía Bắc. Lộ trình thực hiện trong giai đoạn 2015–2017.
Thứ hai, chuyển dịch chiến lược đầu tư giao thông công cộng từ đường sắt đô thị sang hệ thống xe buýt nhanh (BRT). Sở Giao thông Vận tải phối hợp cùng Tổng công ty Becamex IDC đình hoãn kế hoạch đầu tư đường sắt 225 nghìn tỷ đồng, thay thế bằng dự án thí điểm tuyến BRT kết nối Thủ Dầu Một – Thành phố mới Bình Dương – Suối Tiên (TP.HCM) với tổng mức đầu tư ước tính 35 đến 50 triệu USD cho đoạn tuyến 15 đến 20 km. Đặt mục tiêu nâng thị phần vận tải hành khách công cộng đạt 15% vào năm 2020 và 30% vào năm 2030. Lộ trình triển khai hạ tầng từ 2016 đến 2020.
Thứ ba, thiết lập mạng lưới hạ tầng phi cơ giới tích hợp trạm trung chuyển TOD. Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Dầu Một và các thị xã trực thuộc tiến hành cải tạo vỉa hè, xây dựng làn đường riêng cho xe đạp trong bán kính 800 mét quanh các trạm dừng xe buýt, trung tâm hành chính và trường học. Thí điểm lắp đặt 20 trạm xe đạp công cộng thông minh tại trung tâm Thủ Dầu Một và Thành phố mới. Mục tiêu đạt tỷ lệ 10% người dân di chuyển bằng xe đạp và đi bộ vào năm 2020. Lộ trình thực hiện trong giai đoạn 2015–2018.
Thứ tư, tái cơ cấu quỹ đất nhà ở xã hội và chính sách thu giá trị gia tăng từ đất (Land Value Capture). Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Sở Tài chính tham mưu quy định bắt buộc các dự án phát triển đô thị dọc hành lang BRT dành tối thiểu 20% diện tích sàn xây dựng cho nhà ở công nhân giá thấp (dưới 300 triệu đồng/căn). Áp dụng cơ chế đấu giá quyền sử dụng đất công khai thay cho hình thức chỉ định giao đất BT, tạo nguồn thu tối thiểu 10 nghìn tỷ đồng tái đầu tư vào hạ tầng xã hội và công viên cây xanh. Lộ trình hoàn thiện thể chế trong giai đoạn 2015–2019.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và khung phân tích của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:
Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và lãnh đạo chính quyền địa phương (Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, Sở Giao thông Vận tải). Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để thẩm định quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn, ngăn ngừa các dự án hạ tầng giao thông lãng phí và điều chỉnh chính sách nhà ở công nhân sát với nhu cầu thực tế.
Nhóm 2: Các tập đoàn phát triển hạ tầng và doanh nghiệp bất động sản (Becamex IDC, các chủ đầu tư khu công nghiệp và khu đô thị). Tài liệu giúp các nhà đầu tư nhận diện xu hướng phát triển theo mô hình TOD, xác định giá trị gia tăng của quỹ đất quanh các trạm trung chuyển giao thông, và điều chỉnh cơ cấu sản phẩm địa ốc phù hợp với khả năng chi trả của người lao động.
Nhóm 3: Các chuyên gia quy hoạch không gian, tư vấn phát triển và kỹ sư giao thông đô thị. Luận văn cung cấp phương pháp luận chi tiết trong việc tích hợp quy hoạch sử dụng đất với thiết kế mạng lưới giao thông công cộng khối lượng lớn, tính toán năng lực thông hành và bố trí không gian cho người đi bộ và phương tiện phi cơ giới.
Nhóm 4: Các viện nghiên cứu, trường đại học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý đô thị, Chính sách công và Kinh tế học. Luận văn là nghiên cứu điển hình (case study) toàn diện về sự chuyển dịch đô thị tại các vùng kinh tế trọng điểm đang phát triển, phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chính sách đất đai và kinh tế giao thông.
Câu hỏi thường gặp
- Tại sao kế hoạch đầu tư đường sắt đô thị 225 nghìn tỷ đồng giai đoạn 2016–2020 tại Bình Dương bị đánh giá là thiếu tính khả thi?
Mức vốn 225 nghìn tỷ đồng tương đương nhu cầu giải ngân 50 nghìn tỷ đồng mỗi năm, chiếm tới 22% tổng GRDP của toàn tỉnh trong 5 năm, vượt xa ngưỡng đầu tư chuẩn quốc tế dưới 5% GDP. Mật độ dân cư đô thị tại Bình Dương chỉ đạt 2.615 người/km², chưa đạt ngưỡng tối thiểu để duy trì công suất vận hành kinh tế cho các tuyến tàu điện ngầm có chi phí xây dựng từ 80 đến 107 triệu USD/km.
- Mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) mang lại lợi ích gì cho lao động nhập cư?
Mô hình TOD giúp giảm thiểu chi phí sở hữu phương tiện cá nhân nhờ bố trí các tuyến xe buýt nhanh và xe buýt gom trong bán kính tiếp cận đi bộ từ 400 đến 800 mét. Khi kết hợp TOD với chính sách nhà ở xã hội quanh trạm trung chuyển, công nhân có thể tiết kiệm từ 15% đến 20% thu nhập hàng tháng chi cho việc đi lại và sinh hoạt, đồng thời cải thiện chất lượng sống và tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục.
- Đâu là nguyên nhân chính khiến Thành phố mới Bình Dương rơi vào tình trạng vắng vẻ sau khi hoàn thành khu trung tâm hành chính?
Nguyên nhân cốt lõi là sự lệch pha giữa quy hoạch bất động sản cao cấp (nhà phố 4,5 tỷ đồng/căn, căn hộ 21 triệu đồng/m²) với thu nhập của 400 nghìn lao động nhập cư. Việc di dời cơ quan hành chính trên khoảng cách 10 km từ trung tâm Thủ Dầu Một nhưng thiếu các tiện ích thương mại bình dân và mạng lưới giao thông công cộng kết nối giá rẻ đã triệt tiêu động lực dịch chuyển nơi ở của đại đa số người dân.
- Vì sao việc liên tục mở rộng đường bộ không giải quyết được vấn đề ùn tắc giao thông tại các trục Quốc lộ 13 và ĐT741?
Mở rộng đường bộ tạo ra hiện tượng nhu cầu giao thông cảm ứng, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng phương tiện cá nhân nhanh hơn diện tích mặt đường mở rộng. Với 0,88 triệu phương tiện cá nhân và tốc độ đăng ký xe máy tăng 8,1%/năm, chi phí đền bù giải phóng mặt bằng sẽ ngày càng đắt đỏ. Nếu không ưu tiên phát triển vận tải công cộng khối lượng lớn, ách tắc giao thông sẽ tái diễn nghiêm trọng tại các nút giao cắt.
- Hệ thống xe buýt nhanh (BRT) có những ưu thế nổi trội nào so với tàu điện ngầm khi áp dụng tại Bình Dương?
Hệ thống BRT có suất vốn đầu tư chỉ khoảng 3 triệu USD/km, thấp hơn từ 25 đến 35 lần so với tàu điện ngầm (80 đến 107 triệu USD/km) và thời gian thi công chỉ mất từ 2 đến 3 năm. Hệ thống có tính linh hoạt cao trên các trục đường sẵn có, khả năng chuyên chở từ 10 nghìn đến 20 nghìn hành khách/giờ/hướng, hoàn toàn đáp ứng nhu cầu đi lại thực tế của Bình Dương với chi phí vé phù hợp khả năng chi trả của người dân.
Kết luận
- Việc nâng cấp địa giới hành chính cơ học làm tăng gấp đôi dân số đô thị trên danh nghĩa nhưng làm suy giảm mật độ thực tế xuống 1.833 người/km², gây lãng phí nghiêm trọng nguồn lực đất đai lên tới 525 km².
- Chính sách đổi đất lấy hạ tầng thúc đẩy phân khúc bất động sản cao cấp, tạo ra nghịch lý thiếu hụt 80 nghìn căn hộ cho lao động nhập cư và biến khu trung tâm hành chính 1,2 tỷ USD thành đô thị thưa thớt cư dân.
- Dự báo nhu cầu giao thông quá lạc quan dẫn đến phương án đầu tư đường sắt đô thị 225 nghìn tỷ đồng phi thực tế, đòi hỏi phải chuyển dịch ngay sang công nghệ BRT chi phí thấp khoảng 3 triệu USD/km.
- Thói quen phụ thuộc vào 0,88 triệu xe máy và ô tô cùng sự thiếu vắng hạ tầng phi cơ giới là rào cản lớn nhất đối với việc thúc đẩy giao thông công cộng và phát triển mô hình TOD.
- Nâng cao năng lực quản trị công và thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành là yếu tố quyết định để định hình chiến lược tăng trưởng thông minh, phát triển bền vững cho địa phương.
Luận văn đóng góp một khung phân tích khoa học và thực chứng, liên kết chặt chẽ giữa kinh tế học đô thị, chính sách đất đai và quy hoạch hạ tầng vận tải, chỉ rõ những sai lầm trong tư duy đô thị hóa theo chiều rộng tại các tỉnh công nghiệp trọng điểm.
Lộ trình hành động tiếp theo:
- Giai đoạn 2015–2017: Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, khống chế chỉ tiêu đất xây dựng đô thị dưới 300 km² và tái định hình các phân khu chức năng.
- Giai đoạn 2016–2020: Triển khai dự án hành lang BRT Thủ Dầu Một – Thành phố mới – Suối Tiên, đồng thời thiết lập mạng lưới làn đường dành riêng cho xe đạp.
- Giai đoạn 2021–2030: Hoàn thiện thể chế tài chính đô thị dựa trên giá trị đất đai gia tăng và mở rộng hệ thống TOD toàn vùng.
Các cấp chính quyền, chuyên gia quy hoạch và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng thay đổi tư duy quản lý, chuyển dịch từ mở rộng diện tích hành chính sang tối ưu hóa chất lượng không gian sống, kiên quyết áp dụng mô hình tăng trưởng thông minh và TOD nhằm kiến tạo Bình Dương thành một đô thị đáng sống, hiện đại và thịnh vượng.