CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU CHUNG Đường ô tô là tổng hợp các công trình, các trang thiết bị với mục đích phục vụ giao thông trên đường. Là một hệ thống của cơ sở hạ tầng, thông suốt các khu vực với nhau trong việc luân chuyển hàng hóa và con người từ nơi này đến nơi khác. Do đó đường ô tô có tầm quan trọng rất lớn trong các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, quốc phòng,văn hóa, du lịch… So với các loại hình vận tải khác thì đường ô tô có những đặc điểm sau: - Tính cơ động cao vận chuyển trực tiếp hàng hóa, hành khách từ nơi này đến nơi khác không cần các phương tiện trung gian. - Thích ứng với mọi địa hình.
Tốc độ vận chuyển cao hơn đường thủy, tương đương với đường sắt, cước phí vận chuyển rẻ hơn đường hàng không. - Sự phát triển của nền kinh tế trong nước trong những năm gần đây ngày càng cao do vậy lưu lượng xe cộ vận chuyển ngày càng nhiều. Do đó việc xây dựng các tuyến đường ô tô là cần thiết và hợp lí trong giai đoạn phát triển hiện nay. SVTH: NGUYỄN PHÚ ĐĂNG KHOA MSSV: 15127067 Trang 6 do an ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.
TRẦN VŨ TỰ CHƯƠNG 2 : CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC TUYẾN 2. Tình hình chung của khu vực tuyến đi qua : 2. Vị trí địa lý : Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục quan trọng nhất của Việt Nam. Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố trực thuộc trung ương được xếp loại đô thị đặc biệt của Việt Nam, cùng với thủ đô Hà Nội.
Tuyến đường Tôn Đức Thắng thuộc quận 1 TP.Hồ Chí Minh. Đây là tuyến đường nâng cấp và mở rộng có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế cho quận 1 và TP.Hồ Chí Minh nói riêng mà cho cả nước nói chung. Tuyến đường nối các trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của từng quận nhằm từng bước phát triển kinh tế, văn hóa toàn thành phố. Tuyến đường không chỉ phục vụ nhu cầu đi lại của người dân mà còn nâng cao dân trí của người dân khu vực tuyến.
Địa chất và thủy văn: - Địa chất Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm chủ yếu là hai tướng trầm tích Pleistocen và Holocen lộ ra trên bề mặt. Trầm tích Pleistocen chiếm hầu hết phần phía Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thành phố. Dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người, trầm tích phù sa cổ hình thành nhóm đất đặc trưng riêng: đất xám. Với hơn 45 nghìn hecta, tức khoảng 23,4% diện tích thành phố, đất xám ở Thành phố Hồ Chí Minh có ba loại: đất xám cao, đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và hiếm hơn là đất xám gley.
Trầm tích Holocen ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều nguồn gốc: biển, vũng vịnh, sông biển, bãi bồi. hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa biển với 15.100 ha, nhóm đất phèn với 40.800 ha và đất phèn mặn với 45. Ngoài ra còn có một diện tích khoảng hơn 400 ha là "giồng" cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò. - Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai – Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch rất đa dạng.
Sông Ðồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vực lớn, khoảng 45. Với lưu lượng bình quân 20–500 m³/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m³ nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính của thành phố. Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đến Thành phố Hồ Chí Minh, với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km. Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225 m đến 370 m, độ sâu tới 20 m.
Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành mở rộng. Một con sông nữa của Thành phố Hồ Chí Minh là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy ra biển Đông bởi hai ngả chính Soài Rạp và Gành Rái. Trong đó, ngả Gành Rái chính là đường thủy chính cho tàu ra vào bến cảng Sài Gòn. Ngoài các con sông chính, Thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt: Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc –Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ – Kênh Đôi, Tàu Hủ,.
Hệ thống sông, kênh rạch giúp Thành phố Hồ Chí Minh trong việc tưới tiêu, nhưng do chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Ðông, thủy triều thâm nhập sâu đã gây nên những tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành. SVTH: NGUYỄN PHÚ ĐĂNG KHOA MSSV: 15127067 Trang 7 do an ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. Khí hậu, thời tiết: Nằm trong vùng nhiệt đới xavan, cũng như các tỉnh Nam Bộ khác, Thành Phố Hồ Chí Minh không có bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Nhiệt độ cao đều và mưa quanh năm (mùa khô ít mưa).
Trong năm, Thành phố Hồ Chí Minh có 2 mùa là biến thể của mùa hè: mùa mưa – khô rõ rệt. Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11 (khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ cao mưa nhiều), còn mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau (khí hậu khô, nhiệt độ cao và mưa ít). Trung bình, Thành phố Hồ Chí Minh có 160 tới 270 giờ nắng/tháng, nhiệt độ trung bình 27 °C, cao nhất lên tới 40 °C, thấp nhất xuống 13,8 °C. NHIỆT ĐỘ - LƯỢNG MƯA – ĐỘ ẨM THÁNG 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Nhiệt độ 26,0 26,8 28,0 29,2 28,8 27,8 27,5 27,4 27,2 27,0 26,7 26,0 Lượng mưa 12 4 13 51 207 294 307 281 305 291 135 28 Số ngày 2,4 1,0 1,9 5,4 17,8 22,2 22,9 22,4 23,4 20,9 12,1 6,7 mưa Độ ẩm (%) 22,8 24,0 26,2 28,6 30,0 30,2 29,7 29,3 29,5 29,0 27,7 24,2 HƯỚNG GIÓ – TẦN SUẤT Hướng gió B BĐB ĐB ĐĐB Đ ĐĐN ĐN NĐN N Số ngày gió 20 15 40 26 17 16 25 32 14 Tần suất (%) 5.6 Hướng gió NTN TN TTN T TTB TB BTB Lặng Tổng Số ngày gió 35 51 16 17 12 15 23 2 365 Tần suất (%) 8.
Địa hình: Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông. Vùng cao nằm ở phía bắc – Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến 25 mét. Xen kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 mét như đồi Long Bình ở Quận 9. Ngược lại, vùng trũng nằm ở phía nam – Tây Nam và Ðông Nam thành phố, có độ cao trung bình trên dưới 1 mét, nơi thấp nhất 0,5 mét.
Các khu vực trung tâm, một phần các quận Thủ Đức, Quận 2, toàn bộ huyện Hóc Môn và Quận 12 có độ cao trung bình, khoảng 5 tới 10 mét. Ý nghĩa: Tuyến đường góp phần làm dân cư phân bố dọc tuyến, góp phần vào mạng lưới giao thông chung của Thành Phố, nâng cao giá trị vật chất và tinh thần cho người dân và còn góp phần làm hiện đại bộ mặt của Thành Phố. SVTH: NGUYỄN PHÚ ĐĂNG KHOA MSSV: 15127067 Trang 8 do an ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TRẦN VŨ TỰ CHƯƠNG 3: QUY MÔ VÀ TIÊU CHUẨN KỸ THUẬT 3.
Quy mô và cấp hạng công trình: 3. Lựa chọn cấp đường và quy mô mặt cắt: Cấp đường được lựa chọn trên cơ sở quy hoạch được duyệt, vị trí tuyến đường trong mạng lưới đường và điều kiện địa hình, địa vật của khu vực, cụ thể như sau: Dựa theo các căn cứ trên và quy định của quy trình, kiến nghị lựa chọn quy mô thiết kế như sau: Cấp đường: Căn cứ vị trí, vai trò của tuyến đường, chọn quy mô đường phố chính thứ yếu theo TCXDVN 104 – 2007 (phù hợp với chức năng là Phục vụ giao thông liên khu vực, nối liền các khu dân cư tập trung, các khu khu công nghiệp, trung tâm công cộng có quy mô liên khu vực). Tốc độ thiết kế: 60km/h. Quy mô mặt cắt ngang: + Trị số tối thiểu theo quy trình gồm: Phần xe chạy 4 làn × 3.5 m (mong muốn 6-8 làn) Bề rộng hè đường 2 × 8 m; dải mép 0.25 m (điều kiện xây dựng loại III); Dải phân cách 1,5m.
Do bề rộng nền đường theo quy hoạch B = 38 m, kiến nghị quy mô cắt ngang như sau: Làn xe ô tô : 4 × 3. Làn xe hỗn hợp : 2 × 3. Dải phân cách giữa : = 1. Dải an toàn : 2 × 0.
Tổng chiều rộng nền đường : 38 m. Tải trọng tính toán: + Đối với đường: trục đơn 100KN; + Đối với cống: tải trọng H10-XB60 và H30-XB80 theo quy trình thiết kế cầu cống theo trạng thái giới hạn 22 TCN 18-79. Mặt đường cấp cao A1, Eyc ≥ 180 Mpa. Các yêu cầu thiết kế: 3.
Tiêu chuẩn hình học: Kết cấu mặt đường bê tông nhựa đảm bảo modun đàn hồi yêu cầu Eyc ≥ 180 Mpa Tải trọng thiết kế : SVTH: NGUYỄN PHÚ ĐĂNG KHOA MSSV: 15127067 Trang 9 do an ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TRẦN VŨ TỰ + Đối với mặt đường: tải trọng trục xe 100KN; + Đối với cống: tải trọng đoàn xe H30, xe bánh nặng XB80 dùng cho cống băng ngang đường. Tải trọng hoạt tải 300Kg/m2 dùng cho cống ở dưới vỉa hè. Quy mô chiếu sáng: Trên cơ sở tiêu chuẩn TCXDVN 259-2001, yêu cầu kỹ thuật chiếu sáng đối với tuyến đường thiết kế như sau: Đường phố chính chủ yếu, lưu lượng xe lớn nhất trong thời gian có chiếu sáng 500 – 1000 xe/h Mặt đường BTN có độ sáng trung bình.
Cấp chiếu sáng: Cấp A Độ chói trung bình: Ltb= 1.0 cd/m2 Độ rọi trung bình: không yêu cầu Độ đồng đều chung: Uo = L min ≥ 40% L tb Lmin(i) Độ đồng đều dọc trục: U1 = Min ≥ 70% L max(i) Chỉ số chói lóa: G ≥ 4 SVTH: NGUYỄN PHÚ ĐĂNG KHOA MSSV: 15127067 Trang 10 do an ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TRẦN VŨ TỰ CHƯƠNG 4: THIẾT KẾ TUYẾN TRÊN BÌNH ĐỒ 3.