Đặt vấn đề Thái Nguyên là một tỉnh miền núi nằm ở vùng trung du Bắc Bộ, có diện tích tự nhiên là 3.541,1km2 , chiếm 1,08% diện tích và 1,34% dân số cả nƣớc. Thái Nguyên có vị trí và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc trồng và phát triển cây chè. Chè là loại cây công nghiệp dài ngày đƣợc trồng nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc và miền Trung Tây Nguyên, đặc biệt là ở tỉnh Thái Nguyên. Sản xuất chè trong nhiều năm qua đã đáp ứng đƣợc nhu cầu về chè uống cho nhân dân, đồng thời còn xuất khẩu đạt kim ngạch hàng chục triệu USD mỗi năm.
Phát triển ngành chè là vấn đề đang đƣợc coi trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên. Sản xuất chè là một trong những ngành có thế mạnh ở Thái Nguyên. Cây chè ít tranh chấp đất với cây lƣơng thực, thích hợp trên đất dốc. Trồng chè có tác dụng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, hạn chế xói mòn, rửa trôi.
Chè là cây trồng sử dụng có hiệu quả đất đai, khí hậu vùng đồi núi. Phát triển chè sẽ thu hút đƣợc lƣợng lao động đáng kể, không những chỉ trong khâu sản xuất nguyên liệu mà cả khâu chế biến và tiêu thụ. Cây chè tỉnh Thái Nguyên đã từng là “cây xoá đói giảm nghèo” và hiện đang là “cây làm giàu” của nhiều hộ nông dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên. Tiềm năng sử dụng các chế phẩm sinh học trong canh tác cây chè rất lớn, là một hƣớng đi đúng đắn, hƣớng tới một nền nông nghiệp hữu cơ, sinh thái bền vững và thân thiện với môi trƣờng.
Tuy nhiên, trên thực tế, việc sử dụng chế phẩm sinh học ở vùng chè Phúc Xuân Thái Nguyên còn rất ít, chƣa đa dạng sản phẩm, giá thành cao, khó mua, hiệu quả chƣa nhìn thấy ngay. Nên ta phải tìm phân sinh học nào tốt để chợ giúp cây chè sinh trƣởng phát triển làm tăng năng suất, chất lƣợng. Đất Thái Nguyên chủ yếu là đất chua nên bón phân có tính chất chua nhƣ phân đạm urê, phân lân có tính axit làm cho đất ngày càng chua thêm, cây trồng dễ bị ngộ độc rễ nhƣ: Bệnh nghẹt rễ lúa, ngô chân chì, chè bó rễ… Do vậy, nên cây trồng sinh trƣởng, phát triển kém, đất ngày càng bị chai cứng, thoái hóa nghèo kiệt. n 2 Chất và lƣợng các nguyên tố dinh dƣỡng của nhiều loại phân bón không bảo đảm nên khi sử dụng đã ảnh hƣởng xấu đến sinh trƣởng của cây trồng.
Bón các loại phân này không những không tăng năng suất cây trồng và chất lƣợng nông sản mà còn gây thiệt hại kinh tế cho các hộ nông dân. Tăng lƣợng phân bón NPK cho 1 ha gieo trồng theo nguyên tắc cân đối đạm, lân, kali. Tuỳ theo điều kiện của mỗi gia đình, mỗi địa phƣơng, việc sử dụng phân bón phải theo hƣớng bón phối hợp phân hữu cơ và vô cơ để có đủ dinh dƣỡng NPK cho cây chè, đặc biệt trên đất bạc màu, đất trống đồi trọc. Mục đích nghiên cứu Xác định ảnh hƣởng của 3 phân sinh học đến sinh trƣởng và năng suất của chè TRI-777.
Yêu cầu của đề tài - Xác định ảnh hƣởng của phân sinh học đến sinh trƣởng của chè. - Xác định ảnh hƣởng của phân sinh học đến năng suất chè. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn - Ý nghĩa khoa học Khu vực nghiên cứu có nhiều nhóm hộ làm chè lâu đời, điển hình với tiềm năng kinh tế lớn, tạo việc làm cho nhiều lao động, nhiều nhóm hộ giầu nên từ làm chè. Các kết quả nghiên cứu của đề tài hƣớng đến sự phát triển bền vững của cây chè ở nơi đây, góp phần nâng cao đời sống cho nhân dân địa phƣơng.
Đề tài sử dụng các hƣớng tiếp cận trên để mô tả thực trạng của các hộ nông dân làm chè, để phân tích những điểm mạnh điểm yếu, cơ hội và thách thức. - Ý nghĩa thực tiễn Đề tài đƣa ra những giải pháp để phát triển bền vững hơn, là cơ sở khoa học cho các hộ gia đình trồng chè để phát triển bền vững vùng chè, phù hợp với nhu cầu của ngƣời dân. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học để xác định bón phân cho chè 2.
Cơ sở sinh lý của việc sử dụng phân bón cho cây trồng Việc sử dụng phân bón hợp lý cho cây trồng tức là phải dựa trên nhu cầu sinh lý của cây (Giáo trình sinh lý thực vật do GS. HOÀNG MINH TẤN chủ biên). Để có một chế độ phân bón hợp lý cho cây trồng, ta cần xác định lƣợng phân bón cho cây trồng, tỉ lệ thích hợp giữa các loại phân bón, giai đoạn sử dụng phân bón và phƣơng pháp bón phân hợp lý. Xác định lƣợng phân bón thích hợp Lƣợng phân bón(LPB) hợp lý có thể theo công thức sau: LPB=(Nhu cầu dinh dƣỡng của cây – Khả năng cung cấp của đất)/Hệ số sử dụng phân bón - Xác định nhu cầu dinh dƣỡng của cây trồng Nhu cầu dinh dƣỡng của cây trồng là lƣợng chất dinh dƣỡng mà cây cần qua các thời kỳ sinh trƣởng để tạo nên một năng suất tối đa.
Hầu hết lƣợng chất dinh dƣỡng này cây lấy từ đất. Ngƣời ta thƣờng tính nhu cầu dinh dƣỡng của yếu tố phân bón nào đó bằng lƣợng phân bón mà cây cần để tạo một đơn vị năng suất kinh tế. Có nhu cầu dinh dƣỡng tổng số tính toán cho cả chu kỳ sống của cây, nhƣng cũng có nhu cầu dinh dƣỡng tính cho từng giai đoạn sinh trƣởng. Nhu cầu dinh dƣỡng đƣợc tính cho từng yếu tố riêng biệt.
Ví dụ nhƣ muốn đạt năng suất chè 10 tấn/ha/năm thì cây chè cần hút bao nhiêu kg N,P,K…? Nhu cầu dinh dƣỡng của cây trồng là một chỉ tiêu thay đổi rấ nhiểu. Nó thay đổi theo tƣờng loại cây trồng và giống cây trồng khác nhau, theo các điều kiện và mức độ thâm canh, theo biến động của thời tiết…. Muốn xác định nhu cầu dinh dƣỡng của cây thì ta phải tiến hành phân tích hàm lƣợng các chất dinh dƣỡng trong cây. Ngƣời ta tiến hành phân tích vào giai đoạn mà cây tích lũy tối đa trƣớc khi thu hoạch, không phải là lúc cây tàn lụi.
n 4 - Khả năng cung cấp của đất Đó là độ màu mỡ của đất. Độ màu mỡ này tùy thuộc các loại đất khác nhau. Có thể dùng phƣơng pháp hóa học và sinh học để xác định độ phì nhiêu của đất. Phương pháp phân tích hóa học Để xác định độ phì nhiêu của đất ta chỉ tiến hành phân tích thành phần các nguyên tố dinh dƣỡng có trong đất.
Hàm lƣợng dinh dƣỡng trong đất thuộc 2 chỉ tiêu: tổng số và dễ tiêu. Lƣợng chất dinh dƣỡng dễ tiêu thƣờng di động trong dung dịch đất, còn lƣợng tổng số thì ngoài chất dinh dƣỡng dễ tan trong dung dich đất, còn lƣợng tổng số thì ngoài chất dinh dƣỡng tan trong dung dich đất còn lƣợng dinh dƣỡng hấp thụ trên keo đất và dữ chặt trong đất. Phương phát sinh học Ta lấy một lƣợng đất nhất định rồi giao vào đó một lƣợng hạt nhất định. Để cho hạt nảy mầm và cây con sinh trƣởng tự nhiên mà không bón them gì ngoài nƣớc tinh khiết.
Sau đó một thời gian cây con hút cạn hết các chất dinh dƣỡng mà đất có khả năng cung cấp. Ta tiến hành phân tích lƣợng dinh dƣỡng có trong toàn bộ mẫu thu hoach. Trƣớc khi gieo ta phải phân tích lƣợng dinh dƣỡng có trong hạt đem gieo. Khả năng cung cấp chất dinh dƣỡng của đất sẽ bằng lƣợng chất dinh dƣỡng có trong mẫu cây trừ đi lƣợng chất ding dƣỡng có trong hạt.
- Hệ số sử dụng phân bón Là tỉ lệ lƣợng chất dinh dƣỡng mà cây có khả năng lấy đi so với lƣợng phân bón vào đất. Xác định tỷ lệ giữa các loại phân bón và thời kỳ bón phân - Tỷ lệ phân bón Giữa các yếu tố dinh dƣỡng N,P,K có một tỉ lệ tối ƣu nhất định cho từng giống cây trồng và thậm chí cho các giai đoạn sinh trƣởng khác nhau. Tye lệ N,P,K thích hợp làm cho cây sinh trƣởng phát triển tốt, cân đối và cho năng suất cao nhất. Nếu tỷ lệ không cân đối thì sẽ làm giảm hiệu quả của từng yếu tố phân bón và giảm năng suất.
Chẳng hạn bón đạm quá nhiều thì hiệu quả P,K bị giảm sút và ngƣợc lại. n 5 Để xác định tỷ lệ bón phân thích hợp thì ta cần tiến hành thí nghiệm cho từng cây trồng. Công thức nào cho năng suất cao nhất thì công thức bón phân đó có hiệu quả. - Thời kì bón phân Mỗi thời kỳ sinh trƣởng, cây trồng cần một lƣợng phân bón nhất định, khác nhau.Vì vậy, cần phân phối dinh dƣỡng theo yêu cầu của cây trong các giai đoạn khác nhau.
Có hai thời kỳ ta cần ƣu tiên cung cấp cho cây là thời kỳ khủng hoảng và thời kỳ hiệu suất cao nhất. Thời kỳ khủng hoảng nếu thiếu nó thì ảnh hƣởng mạnh nhất đến sinh trƣởng và năng suất của cây trồng. Thời kỳ hiệu suất cao nhất là thời kỳ các yếu tố dinh dƣỡng phát huy hiệu quả cao nhất. Phƣơng pháp bón phân thích hợp Tùy từng cây trồng mà bón.
Có thể sử dụng phƣơng pháp bón lót, bón thúc hoặc phun qua lá…. - Bón lót là bón trƣớc khi gieo trồng nhằm cung cấp chất dinh dƣỡng ban đầu cho sự sinh trƣởng ban đầu của cây. Tùy từng cây trồng mà bón lót với lƣợng khác nhau. Với phân lân và vôi do hiệu quả của chúng chậm nên bón lƣợng lớn.
Phân đam và kali hiệu quả chúng nhanh và dễ bị rửa trôi lên ta bón lót một lƣợng vừa đủ cho sinh trƣởng của cây trồng còn chủ yếu bón thúc. - Bón thúc là bón nhiều lần vừa làm thỏa mãn nhu cầu vừa tránh lãnh phí do bị rửa trôi trong đất. - Phun phân qua lá là phƣơng phát bón tích kiệm nhất và phát huy hiểu quả nhanh nhất. Tuy nhiên , tùy từng loại cây trồng và loại phân bón mà ta sử dụng phƣơng phát phun qua lá.2 Bón phân cho chè Bón phân cho chè( Giáo trình cây chè do TS.
LÊ TẤT KHƢƠNG chủ biên) trong thời kỳ sản xuất có ảnh hƣởng trực tiếp đến sinh trƣởng, sản lƣợng và phẩm chất của chè. Cơ sở khoa học của việc bón phân cho chè gồm những điểm chính nhƣ sau: - Cây chè có khả năng liên tục hút dinh dƣỡng trong chu kỳ phát dục hàng năm cũng nhƣ trong chu kỳ phát dục cả đời sống của nó.