MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Rau củ quả là những loại thức ăn nhiều chất dinh dưỡng và là thực phẩm cần thiết, không thể thiếu trong đời sống con người. Đặc biệt khi lương thực và các loại thức ăn giàu đạm đã được đảm bảo thì nhu cầu về rau, củ, quả lại càng gia tăng, như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng kéo dài tuổi thọ. Ngành sản xuất rau, củ, quả cung cấp cho chúng ta sản phẩm là các loại rau xanh, củ, quả và là một bộ phận quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.
Bí đỏ hay còn gọi là bí ngô có tên khoa học là Cucurbita pepo L, có tên tiếng Anh là Pumpkin là một loại cây thuộc chi Cucurbita và họ bầu bí Cucurbitaceae. Đây là loài cây dễ trồng, không kén đất, có thể trồng được ở nhiều vụ trên nhiều loại đất khác nhau từ vùng đồng bằng đến đất đồi núi và cả đất mặn vùng ven biển, được trồng ở khắp mọi miền của Việt Nam, có mặt ở nhiều vùng sinh thái trong cả nước (Nguyễn mạnh Thắng, 2010)[3]. Bí đỏ được sử dụng làm thực phẩm có thể là ngọn, lá non, hoa và qủa, tuy nhiên thường thấy nhất là sử dụng phần thịt của quả. Phương thức sử dụng các sản phẩm của bí đỏ cũng rất phong phú như: Làm rau, làm bánh, làm nguyên liệu công nghiệp chế biến.
Quả bí đỏ chứa nhiều vitamin và khoáng chất, cũng là một vị thuốc nam trị nhiều bệnh. Quả bí đỏ giàu vitamin A, chứa (85 - 91) % nước, chất đạm (0,8 - 2) g, chất béo (0,1 - 0,5) g, chất bột đường (3,3 – 11) g, năng lượng (85 -170) kJ/100g. Bí đỏ được biết đến như một loại thực phẩm giàu dinh dưỡng. Bí đỏ là cây trồng mà dường như rất quen thuộc với đời sống con người, tuy nhiên cho tới nay vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về loại cây trồng này, diện tích trồng còn nhỏ lẻ, phân tán và c 2 chưa tạo được sự bứt phá về giống.
Kỹ thuật canh tác của người dân ở các địa phương chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cổ truyền do chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu hay các quy trình kỹ thuật hướng dẫn cụ thể về cách trồng loại cây trồng này. Vì vậy, việc nghiên cứu áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong trồng trọt, thâm canh và chọn tạo những giống bí đỏ có năng suất, chất lượng phù hợp với các vùng sinh thái là rất cần thiết. Trên thực tế có rất ít địa phương có thể trồng bí đỏ để đạt năng suất cao, vì vậy việc quan trọng để đạt được năng suất cao cần phải áp dụng các biện pháp kĩ thuật. Mô ̣t trong những biê ̣n pháp quan tro ̣ng là yế u tố mâ ̣t đô ̣ trồ ng.
Mâ ̣t đô ̣ ảnh hưởng rấ t lớn tới năng suấ t quầ n thể cây trồ ng. Mô ̣t mâ ̣t đô ̣ trồ ng hơ ̣p lý sẽ tăng năng suấ t và chấ t lươ ̣ng bí , hạn chế cạnh tranh dinh dưỡng và sâu bê ̣nh ha ̣i và tâ ̣n du ̣ng tố i đa diê ̣n tić h sử du ̣ng. Xuất phát từ thực tiễn trên nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của giống bí đỏ Goldstar 998 trong vụ Thu Đông năm 2016 tại Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.
Mục tiêu Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của giống bí đỏ Goldstar 998 nhằm chọn ra mật độ trồng thích hợp nhất phục vụ cho sản xuất và nhu cầu của thị trường. Yêu cầu Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của bí đỏ Goldstar998 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến năng suất và yếu tố cấu thành năng suất của bí đỏ Goldstar 998 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến mức độ nhiễm sâu bệnh của bí đỏ Goldstar 998. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học Từ kết quả nghiên cứu của đề tài bước đầu đánh giá mật độ thích hợp của bí đỏ trong vụ Thu Đông năm 2017 tại Thái Nguyên.
Góp phần xây dựng căn cứ lý luận khoa học cho sản xuất bí đỏ trong khu vực Thái Nguyên và một số vùng có điều kiện thời tiết tương tự như Thái Nguyên. Ý nghĩa trong thực tiễn Ý nghĩa trong công tác học tập và nghiên cứu khoa học: giúp sinh viên có được những kiến thức, kinh nghiệm thực tế trong quá trình trồng, chăm sóc cây và kĩ năng bố trí thí nghiệm đồng ruộng từ đó góp phần củng cố lý thuyết đã học, biết cách thực hiện một đề tài khoa học. Kết quả nghiên cứu là cơ sở tác động biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, phẩm chất và mật độ phù hợp nhất cho giống bí đỏ Goldstar 998 trong vụ Thu Đông tại Thái Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc từ đó khuyến cáo cho nhân dân sản xuất nhằm đạt được năng suất và hiệu quả cao nhất. c 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở khoa học 2.1 Mật độ gieo trồng là một trong những yếu tố quan trọng tạo năng suất quần thể cây trồng và hiệu quả sản xuất cao Cây trồng nói chung và cây bí đỏ nói riêng trong quá trình sinh trưởng, phát triển có mối quan hệ với nhau để tạo năng suất. Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây bị chi phối bởi nhiều quy luật trong đó có quy luật cạnh tranh loài. Đó là cạnh tranh về nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, quá trình hấp thụ nước, dinh dưỡng của từng cá thể.
Nếu được hấp thụ tốt cây trồng sẽ phát triển tốt. Mặt khác không thể tách rời nhu cầu của cây trồng ra khỏi nhu cầu chung của hệ sinh thái nông nghiệp. Những biện pháp kỹ thuật tác động lên cây đều tác động lên thành phần của hệ sinh thái. Vì vậy có những biện pháp kỹ thuật canh tác đối với cây rất tốt nhưng năng suất của cây không cao vì biện pháp đó thúc đẩy các yếu tố ngăn cản hoặc huỷ hoại năng suất của cây trồng vốn có trong hệ sinh thái (Phan Thị Hải Yến, 2012)[7].
Trên thực tế mật độ trên đồng ruộng là yếu tố quan trọng quyết định năng suất của bí đỏ. Mật độ là một trong những yếu tố chi phối điều kiện khí hậu đồng ruộng và ngược lại điều kiện khí hậu tác động trở lại đối với sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng. Mật độ gieo trồng hợp lý sẽ tận dụng được các nguồn lực phân bón, nước, ánh sáng để cho năng suất cao. Mật độ thưa ánh sáng phân bố đều trên bề mặt cây từ gốc đến ngọn, sẽ tạo điều kiện để cây sinh trưởng tốt, phân cành nhiều, cây hút được nhiều dinh dưỡng, hoa quả dưới thấp có điều kiện phát triển, số quả trên cây lớn, diện tích lá trên cây cao, đó chính là tiền đề cho năng suất cá thể cao.
Nhưng nếu trồng với mật độ quá thưa, cây sinh trưởng mạnh, diện tích lá trên cây lớn, tán phát triển quá rộng, hiệu quả sử dụng dinh dưỡng thấp gây lãng phí các nguồn lực nông nghiệp. Mật độ thưa có thể năng suất cá thể cao nhưng năng suất quần thể thấp nên hiệu quả sản xuất lại thấp. c 5 Nếu trồng với mật độ dày, các cây cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng nhiều, đường kính thân nhỏ, phân cành ít, diện tích lá trên cây thấp nhưng chỉ số diện tích lá cao nên các lá phía dưới không nhận được mà chỉ tiêu tốn dinh dưỡng hô hấp vô hiệu. Thời kỳ ra hoa kết quả lá rụng nhiều, khả năng quang hợp giảm ảnh hưởng tới sự tích luỹ chất dinh dưỡng cho quả và hạt, do vậy trồng dày số quả trên cây ít, nhỏ, năng suất từng cây thấp, nên năng suất chung kém lại tốn công, tốn giống.
Trường Đại học Nông nghiệp I (1972) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất kinh tế, năng suất sinh học và diện tích lá. Thí nghiệm đã cho mối tương quan giữa năng suất kinh tế, năng suất sinh học và diện tích lá, mối tương quan giữa ba yếu tố đó được thể hiện ở bảng sau: NS Sinh vật học NS kinh tế m2 lá/m2 đất (tạ/ha) (tạ/ha) 2,0 – 2,5 40,4 – 50,8 20,0 – 23,5 2,5 – 3,0 50,6 – 50,8 25,2 – 31,3 3,5 – 4,0 91,3 – 93,5 31,8 – 41,1 4,0 – 4,5 89,1 – 124,5 35,0 – 47,3 Như vậy muốn đạt năng suất cao, phải tạo điều kiện để diện tích lá, năng suất sinh học tương ứng. Biện pháp chủ yếu để nâng cao các chỉ tiêu này là trồng mật độ hợp lý, tức là điều khiển mật độ thực tế đồng ruộng một cách hợp lý (Trần Kim Đôn, 2001)[2]. Mật độ gieo trồng không chỉ ảnh hưởng đến năng suất cây trồng mà cũng ảnh hưởng đến phát sinh và gây hại của sâu bệnh.
Vì vậy mật độ gieo trồng hợp lý được coi là biện pháp canh tác phòng trừ sâu bệnh. Trồng quá thưa tạo điều kiện thuận lợi cho cỏ dại phát triển, tranh chấp dinh dưỡng với cây trồng. Trồng quá dày làm cho ruộng không thoáng, độ ẩm cao tạo điều kiện cho nhiều loại sâu bệnh phát triển và gây hại (rầy, rệp…) c 6 Ruộng lúa cấy dày làm cho ẩm độ trong ruộng cao, thuận lợi đối với rầy nâu, bệnh khô vằn, đạo ôn phát triển. Cấy dày làm cho thân cây lúa mềm thuận lợi cho sâu đục thân tuổi 1 xâm nhập cho nên tỷ lệ sống sót thấp, làm cho tỷ lệ nõn héo trên cây lúa trên ruộng lúa cao.
Ruộng lúa cấy thưa hấp dẫn sự đẻ trứng của sâu đục thân, lúa cấy thưa nên những khoảng trên rộng, đó là một yếu tố hấp dẫn ruồi đen hại lúa. Lạc trồng dày thì tỷ lệ bệnh đốm nâu, đốm đen càng cao, kích thước quả lạc bé. Mỗi vùng có kỹ thuật canh tác khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện đất đai, mùa vụ, địa hình… mà mỗi giống có mật độ thích hợp nhằm đạt được năng suất cao. Mật độ là yếu tố quan trọng quyết định năng suất của cây bí đỏ Năng suất của cây bí đỏ Goldstar 998 được quyết định bởi tổng số cây thực tế trên một đơn vị diện tích, trọng lượng bình quân của quả Năng suất = Mật độ x Năng suất cá thể Mục tiêu chính của thâm canh là làm sao đạt được tích số trên lớn nhất.
Phân tích công thức trên cho thấy: Trong cùng một giống trọng lượng quả ít thay đổi, hai yếu tố cây và số quả trên cây thì biến động nhiều và nghịch chiều nhau.