phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức cấp xã Chƣơng 2: Thực trạng nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức cấp xã của thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức cấp xã của thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Các khái niệm cơ bản 1. Công chức, công chức cấp xã và đội ngũ công chức cấp xã 1. Công chức Công chức là một khái niệm chung đƣợc sử dụng phổ biến nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những công dân đƣợc tuyển dụng vào làm việc thƣờng xuyên trong cơ quan nhà nƣớc, do tính chất đặc thù của mỗi quốc gia, khái niệm công chức của các nƣớc cũng không hoàn toàn đồng nhất.
Có nƣớc chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những ngƣời hoạt động quản lý nhà nƣớc. Một số nƣớc khác có quan niệm rộng hơn, công chức không chỉ bao gồm những ngƣời thực hiện trực tiếp các hoạt động quản lý nhà nƣớc mà còn bao gồm cả những ngƣời làm việc trong các cơ quan có tính chất công cộng. Ở Pháp, công chức là những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nƣớc tổ chức bao gồm cả trung ƣơng, địa phƣơng. Ở Trung Quốc, khái niệm công chức đƣợc hiểu là những ngƣời công tác trong cơ quan hành chính các cấp, trừ nhân viên phục vụ, bao gồm công chức lãnh đạo và công chức nghiệp vụ.
Công chức lãnh đạo là những ngƣời thừa hành quyền lực nhà nƣớc, đƣợc bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều hành của Hiến Pháp, Điều lệ công chức và Luật tổ chức của chính quyền các cấp. Công chức nghiệp vụ là những ngƣời thi hành chế độ thƣờng nhiệm, do các cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức, chiếm tuyệt đại đa số trong công chức nhà nƣớc, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành các chính sách và pháp luật. 13 Ở Nhật Bản, công chức đƣợc phân thành hai loại chính, gồm công chức nhà nƣớc và công chức địa phƣơng. Công chức nhà nƣớc gồm những ngƣời đƣợc nhận chức trong bộ máy của Chính phủ trung ƣơng, ngành tƣ pháp, quốc hội, trƣờng công và bệnh viện quốc lập, xí nghiệp và đơn vị sự nghiệp quốc doanh đƣợc lĩnh lƣơng của ngân sách nhà nƣớc.
Công chức địa phƣơng là những ngƣời làm việc và lĩnh lƣơng từ tài chính địa phƣơng. Nhìn chung, các nƣớc trên thế giới có nhiều điểm chung cơ bản giống nhau trong quan niệm về công chức.Bên cạnh đó, do truyền thống văn hóa, xã hội, do đặc điểm chính trị, kinh tế nên mỗi nƣớc có những điểm riêng. Ở Việt Nam, khái niệm công chức đƣợc hình thành và thƣờng gắn liền với sự hình thành và phát triển ngày càng hoàn thiện của nền hành chính nhà nƣớc. Cùng với sự phát triển của đất nƣớc và nền hành chính nƣớc nhà, khái niệm công chức đã dần đƣợc quy định cụ thể hơn, chi tiết hơn.
Đến năm 2008, Quốc hội nƣớc Cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông qua Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12. Đây là bƣớc tiến mới, mang tính cách mạng về cải cách chế độ công vụ, công chức, thể chế hoá quan điểm, đƣờng lối của Đảng về công tác cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Điều 4, Khoản 2 Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12, xác định: “Công chức là công dân Việt nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, thuộc đơn vị Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt nam, Nhà nước, tổ chức Chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị công lập) trong 14 biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Theo Điều 1 Luật số 52/2019/QH14 ngày 25/11/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Nhƣ vậy công chức ở Việt Nam không chỉ gồm những ngƣời làm việc trong các cơ quan Hành chính nhà nƣớc mà còn bao gồm cả những ngƣời làm việc ở các Phòng Ban của Đảng, Mặt trận tổ quốc Việt Nam; các tổ chức chính trị xã hội nhƣ: Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam, các cơ quan đơn vị thuộc quân đội nhân dân, công an nhân dân, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân từ cấp trung ƣơng đến cấp huyện. Công chức cấp xã Từ khái niệm công chức, chúng ta có thể khái quát: Công chức cấp xã là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Nhƣ vậy, công chức cấp xã đƣợc tuyển dụng và phụ trách những lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể tại UBND cấp xã, trực tiếp tham mƣu cho lãnh đạo UBND cấp xã trong việc điều hành, chỉ đạo 15 công tác, thực hiện các chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc. - Cơ cấu công chức cấp xã: Theo Khoản 3, Điều 61 của Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12, công chức cấp xã có các chức danh sau đây: + Trƣởng Công an; + Chỉ huy trƣởng Quân sự; + Văn phòng - thống kê; + Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trƣờng (đối với phƣờng, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trƣờng (đối với xã); + Tài chính - kế toán; + Tƣ pháp - hộ tịch; + Văn hóa - xã hội.
Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý. Ngoài các chức danh theo quy định trên, công chức cấp xã còn bao gồm cả cán bộ, công chức đƣợc luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã. - Số lƣợng công chức cấp xã: Theo quy định tại Khoản 1, Điều 2 của Nghị định số 34/2019/NĐ-CP ngày 24/4/2019 của Chính phủ: Số lƣợng cán bộ, công chức cấp xã đƣợc bố trí theo Quyết định phân loại đơn vị hành chính xã, phƣờng, thị trấn. Cụ thể nhƣ sau: cấp xã loại 1 tối đa 23 ngƣời, cấp xã loại 2 tối đa 21 ngƣời, cấp xã loại 3 tối đa 19 ngƣời (bao gồm cả cán bộ, công chức đƣợc luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã).
Đội ngũ công chức cấp xã Từ khái niệm công chức cấp xã, chúng ta có thể khái quát: Đội ngũ công chức cấp xã là tập hợp các công chức đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Bên cạnh những đặc điểm 16 chung giống nhƣ công chức khác, do đặc thù hoạt động của đội ngũ công chức cấp xã nên đội ngũ này có những đặc điểm đặc thù nhƣ: Thứ nhất, hầu hết đội ngũ công chức xã, phƣờng, thị trấn đều là ngƣời địa phƣơng, sinh sống tại địa phƣơng, có quan hệ dòng tộc và gắn bó với ngƣời dân tại địa phƣơng đó. Công chức chính quyền cấp xã là những ngƣời xuất phát từ cơ sở, họ vừa trực tiếp tham gia lao động sản xuất, vừa là ngƣời đại diện cho nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc, giải quyết các công việc của nhà nƣớc. Do vậy, xét ở khía cạnh nào đó, công chức cấp xã bị chi phối, ảnh hƣởng rất nhiều bởi những phong tục tập quán làng quê, những nét văn hóa bản sắc riêng đặc thù của địa phƣơng, của dòng họ.
Thứ hai, sản phẩm hoạt động của công chức cấp xã là các quyết định quản lý hành chính có tác động sâu rộng đến đời sống kinh tế, xã hội và cục diện địa phƣơng. Vì vậy đòi hỏi ngƣời công chức phải có trình độ hiểu biết sâu rộng, có kỹ năng làm việc thuần thục trên lĩnh vực mà họ đảm nhiệm. Thứ ba, công chức cấp xã của cả nƣớc hiện nay rất đông, tuy nhiên về chất lƣợng lại rất yếu, độ tuổi tƣơng đối già. Hơn nữa, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý của đội ngũ chủ chốt chính quyền cơ sở chƣa đồng đều, mặt bằng chung còn thấp, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu quản lý nhà nƣớc ở chính quyền cơ sở.
Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả giải quyết công việc của đội ngũ công chức cấp xã chƣa cao. Chất lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã 1. Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã Chất lƣợng là một phạm trù trừu tƣợng, nó mang tính chất định tính và khó định lƣợng, chúng ta không thể cân đo đong đếm đƣợc. Dƣới mỗi cách tiếp cận khác nhau, quan niệm về chất lƣợng cũng khác nhau.
17 Theo từ điển tiếng Việt, chất lƣợng đƣợc xem là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của mỗi con ngƣời, một sự vật, một sự việc. Đây là cách đánh giá một con ngƣời, một sự vật trong cái đơn nhất, cái độc lập của nó.