Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ với tiêu đề “Ecological Concern and Sustainability in the Selected Works of Al Gore” (tạm dịch: Mối quan tâm sinh thái và tính bền vững trong các tác phẩm chọn lọc của Al Gore) do nghiên cứu sinh Phùng Thị Thu Hà thực hiện, bảo vệ năm 2015 tại Trường Sau đại học thuộc Trường Đại học Batangas State University (Thành phố Batangas, Philippines), trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác Học thuật Quốc tế với Trường Đại học Thái Nguyên (Việt Nam). Luận án được thực hiện nhằm đáp ứng một phần yêu cầu của học vị Tiến sĩ Triết học chuyên ngành Tiếng Anh (Doctor of Philosophy major in English), dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Maria Luisa A. Valdez. Hội đồng chấm luận án gồm có Chủ tịch là Dimaano, các thành viên phản biện là Tiến sĩ Panopio và Tiến sĩ Sulit (đại diện bên ngoài).

Về tính cấp thiết, tác giả trình bày rằng thế giới đương đại đang đối mặt với các cuộc khủng hoảng môi trường nghiêm trọng chưa từng có, đe dọa các hệ thống tài nguyên thiên nhiên và quá trình duy trì sự sống. Nếu không có các hành động đa chiều và kiên quyết từ nhân loại, môi trường sẽ không còn khả năng nâng đỡ sự sống của con người, đẩy các thế hệ tương lai vào tình trạng khan hiếm và nghịch cảnh. Các vấn đề môi trường mang tính xuyên biên giới, khu vực và toàn cầu, đòi hỏi sự hợp tác đa quốc gia. Tại khu vực Đông Nam Á và cụ thể là Việt Nam – một quốc gia bán đảo nằm trong vành đai gió mùa nhiệt đới – tác động của biến đổi khí hậu diễn ra rất rõ nét. Dữ liệu văn bản trích dẫn từ Viện Chiến lược và Chính sách Tài nguyên và Môi trường (ISPONRE, 2009) và Cổng thông tin Hiện trạng Môi trường Việt Nam (2014) cho biết trong 50 năm qua, nhiệt độ bề mặt trung bình tại Việt Nam đã tăng khoảng 0,7°C, mực nước biển dọc bờ biển dâng khoảng 20 cm; các hiện tượng El-Nino và La-Nina cùng thiên tai như bão nhiệt đới, lũ lụt và hạn hán ngày càng cực đoan.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ vai trò của văn học đối với hiện thực xã hội. Dựa trên quan điểm của Ogundokun (2014), văn học không chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng thuần túy mà là một thiết chế xã hội và phản ánh thực tại khách quan, có khả năng thúc đẩy hợp tác xã hội và tái thiết quốc gia thông qua việc phổ biến thông tin. Trước thực trạng khủng hoảng sinh thái, nhiều tác giả đã lên tiếng, tiêu biểu là Al Gore – cựu Phó Tổng thống Hoa Kỳ (nhiệm kỳ 1993–2001), ứng viên Tổng thống năm 2000 và đồng nhận giải Nobel Hòa bình năm 2007. Mặc dù các tác phẩm của Al Gore có sức lan tỏa rộng rãi, việc phân tích chúng dưới góc độ phê bình văn học để làm sáng tỏ các giá trị triết học môi trường, kỹ thuật tu từ và rút ra bài học về đạo đức quản lý sinh thái (ecological stewardship) nhằm phục vụ công tác giảng dạy cho sinh viên Việt Nam vẫn là một khoảng trống học thuật cần được giải quyết.

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là phân tích mối quan tâm sinh thái và tính bền vững thể hiện trong các tác phẩm văn học chọn lọc của Al Gore, từ đó chỉ ra những bài học về đạo đức quản lý sinh thái có thể mang lại lợi ích cho sinh viên Việt Nam. Để đạt được mục tiêu này, luận án đặt ra 5 câu hỏi nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản như sau:

  1. Những suy ngẫm nào của tác giả về môi trường được thể hiện trong các tác phẩm: 1.1 Earth in the Balance; và 1.2 The Inconvenient Truth: The Planetary Emergency of Global Warming and What We Can Do About It?
  2. Mối quan tâm sinh thái được phản ánh như thế nào trong các tác phẩm được chọn theo các khía cạnh: 2.1 tôn trọng Trái Đất và sự sống trong toàn bộ tính đa dạng; 2.2 bảo vệ năng lực tái sinh của Trái Đất; 2.3 chăm sóc đời sống cộng đồng; và 2.4 trân trọng vẻ đẹp cùng sự phong phú của Trái Đất?
  3. Tính bền vững được thể hiện như thế nào trong các tác phẩm chọn lọc thông qua việc điều hòa các đòi hỏi: các đòi hỏi về môi trường, các đòi hỏi về công bằng xã hội và các đòi hỏi về kinh tế?
  4. Những biện pháp tu từ nào đã được sử dụng để làm nổi bật chủ đề mối quan tâm sinh thái và tính bền vững của Al Gore?
  5. Những khuynh hướng tiếp cận văn học nào chiếm ưu thế trong việc xử lý các tác phẩm được chọn liên quan đến: 5.1 tiếp cận xã hội học; và tiếp cận triết học? Cùng với câu hỏi về những bài học quản lý sinh thái có thể rút ra cho sinh viên Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hai tác phẩm văn học đại diện của Al Gore: cuốn sách Earth in the Balance (xuất bản năm 1992) và An Inconvenient Truth: The Planetary Emergency of Global Warming and What We Can Do About It (xuất bản năm 2006). Đây được xác định là nguồn tài liệu sơ cấp và song hành của nghiên cứu.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở các khía cạnh nội dung liên quan trực tiếp đến 4 thành tố của mối quan tâm sinh thái, 3 đòi hỏi của tính bền vững, các biện pháp tu từ văn học, hai tiếp cận phê bình văn học (xã hội học và triết học) và tác động giáo dục đối với sinh viên Việt Nam. Luận án loại trừ các tác phẩm khác của Al Gore như The Future: Six Drivers of Global Change, An Inconvenient Truth: The Crisis of Global Warming, Our Choice: A Plan to Solve the Climate Crisis, Our Choice: How We Can Solve the Climate Crisis, và ấn bản Earth in the Balance: Forging a New Common Purpose. Đồng thời, các trường phái phê bình văn học khác như Phê bình Hình thức luận (Formalist Criticism), Phê bình Tiểu sử (Biographical Criticism), Phê bình Lịch sử (Historical Criticism) và Phê bình Tâm lý học (Psychological Criticism) cũng không nằm trong phạm vi khảo sát của đề tài.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương II, tác giả hệ thống hóa các tài liệu khái niệm và công trình nghiên cứu liên quan đến bốn nhóm nội dung chính: hiện tượng nóng lên toàn cầu; mối quan tâm môi trường và đạo đức quản lý sinh thái; giáo dục môi trường và tính bền vững; tác giả Al Gore cùng các tiếp cận phê bình văn học.

Ở nhóm tài liệu về biến đổi khí hậu và suy thoái sinh thái, tác giả viện dẫn các dữ liệu khoa học thực chứng:

  • Miller (1998) chỉ ra sự liên kết giữa bùng nổ dân số, lãng phí tài nguyên, suy thoái sinh cảnh và ô nhiễm, trong đó ước tính có từ 2 đến 8 loài sinh vật bị tuyệt chủng mỗi giờ do mất môi trường sống.
  • Bradford (2014) nhấn mạnh sự đồng thuận của giới khoa học về việc hiện tượng nóng lên toàn cầu xuất phát từ các hoạt động của con người, chủ yếu do đốt nhiên liệu hóa thạch thải khí CO2, methane và các khí nhà kính khác.
  • Báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC, 2013) khẳng định mức độ chắc chắn trên 95% về trách nhiệm của con người đối với việc các đại dương ấm lên, băng tan nhanh và mực nước biển dâng; đồng thời cảnh báo nếu lượng phát thải không được kiểm soát, mực nước biển toàn cầu có thể tăng tới 3 feet (khoảng 0,98 mét) vào năm 2100. Báo cáo này cũng trích dẫn dự báo mực nước biển tại Thành phố New York có thể cao hơn 2,7 mét, tại Hampton Roads cao hơn 2,88 mét và tại Galveston cao hơn 2,06 mét.
  • Sobel (2014) phân tích tác động của biến đổi khí hậu đến cơ chế hình thành bão, chỉ ra rằng sự chênh lệch nhiệt độ giữa đại dương nhiệt đới ấm và tầng khí quyển trên lạnh sẽ gia tăng cường độ tàn phá của các cơn bão.
  • Báo cáo từ Climate Central (2014) và Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA, 2014) dự báo sự gia tăng tần suất của các hiện tượng thời tiết cực đoan như sóng nhiệt, hạn hán và bão tuyết.
  • Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (National Academy of Sciences, 2015) ghi nhận xu hướng các loài động thực vật dịch chuyển địa bàn cư trú từ xích đạo về phía hai cực hoặc lên độ cao lớn hơn để tìm kiếm nhiệt độ thích hợp.
  • Tạp chí Nature Climate Change (2013) cảnh báo nguy cơ biến mất của 50% loài thực vật và 33% loài động vật khỏi phạm vi sinh sống hiện tại vào năm 2080 nếu biến đổi khí hậu không được ngăn chặn.
  • Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO, 2014) công bố tốc độ dâng của mực nước biển đạt trung bình 3 mm/năm trên toàn cầu, cao gấp đôi mức trung bình 0,6 mm/năm của thế kỷ 20; mực nước biển toàn cầu đã tăng khoảng 8 inches kể từ năm 1870.
  • Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ (AMA) ghi nhận sự gia tăng các bệnh lây truyền qua muỗi như sốt rét, sốt xuất huyết và các bệnh mạn tính như hen suyễn do hệ quả trực tiếp của hiện tượng ấm lên toàn cầu.
  • Băng biển Bắc Cực đạt mức thấp kỷ lục vào năm 2012, và tại Vườn quốc gia Glacier ở Montana chỉ còn 25 sông băng có diện tích lớn hơn 25 mẫu Anh so với khoảng 150 sông băng từng tồn tại trước đây.
  • Kurukulasuriya và Robinson (2006) phân tích Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC, 1992), Tuyên bố Rio và Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21), nhấn mạnh các nguyên tắc công bằng giữa các thế hệ, nguyên tắc phòng ngừa và trách nhiệm chung nhưng có phân hóa.

Ở nhóm tài liệu về đạo đức sinh thái và quản lý môi trường, tác giả trích dẫn:

  • Leopold (1949) với tác phẩm nền tảng về "Đạo đức đất đai" (land ethic), định nghĩa quản lý sinh thái là sự cam kết trách nhiệm của cá nhân đối với đất đai theo nghĩa rộng của tự nhiên.
  • Nightingale (2006) định nghĩa sự quan tâm đến thiên nhiên và thực vật gắn liền với tình yêu thiên nhiên và sự phẫn nộ đạo đức trước các hành vi bóc lột môi trường.
  • Brown (2001) làm rõ việc chăm sóc con người và động vật bao gồm cả việc bảo vệ khỏi các mối đe dọa và bảo đảm phúc lợi sinh tồn lâu dài.
  • Dunlap và Jones (2002) xác định mối quan tâm môi trường là mức độ nhận thức của con người về các vấn đề sinh thái và sự sẵn sàng đóng góp vào các giải pháp xử lý.
  • Chichilnisky, Heal và Starrett (2000) cùng Rauner (2000) định nghĩa việc chăm sóc đời sống cộng đồng thông qua sự kết nối xã hội, hiểu biết lịch sử và các nguồn tài nguyên duy trì sự sống dựa trên mô hình chú ý, tính đáp ứng và năng lực hành động.
  • Panwar (2011) khẳng định con người là một phần không thể tách rời của sinh thái, có nghĩa vụ bảo vệ các dạng thức sinh tồn trên Trái Đất.
  • Rawls được trích dẫn về yêu cầu ra quyết định công bằng dựa trên tính bình đẳng về mặt thủ tục.
  • Svendsen và Campbell (2008) chỉ ra rằng các hành động quản lý sinh thái thường được thúc đẩy bởi sự gắn kết cá nhân với tài nguyên tự nhiên đang bị suy thoái.

Ở nhóm tài liệu về giáo dục môi trường và tính bền vững:

  • Báo cáo Brundtland từ Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED, 1987) khẳng định vai trò của giáo viên trong thúc đẩy phát triển bền vững.
  • Chiến lược Bảo tồn Thế giới (IUCN, UNEP, WWF, 1980) và báo cáo Caring for the Earth (1991) nêu rõ giáo dục phải định hình một đạo đức mới giúp xã hội loài người sống hài hòa với thiên nhiên.
  • Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21, 1992) dành riêng một chương khẳng định tầm quan trọng của giáo dục trong thúc đẩy phát triển bền vững và sự tham gia của công chúng.
  • Tuyên bố Tbilisi (UNESCO-UNEP, 1978) và Đại hội Quốc tế tại Moscow (UNESCO-UNEP, 1988) thiết lập 5 mục tiêu nền tảng của giáo dục môi trường gồm: Nhận thức (Awareness), Kiến thức (Knowledge), Thái độ (Attitudes), Kỹ năng (Skills) và Sự tham gia (Participation).
  • Fien (1993) và Orr (1992) phân tích các quan niệm đa dạng về tính bền vững.
  • Ogundokun (2014) lập luận dưới góc độ phê bình xã hội học rằng văn học phản ánh hiện thực xã hội và là phương tiện cho tái thiết và phát triển bền vững.
Nhóm chủ đề Tác giả, tài liệu tiêu biểu Nội dung học thuật cốt lõi
Biến đổi khí hậu & Khoa học môi trường IPCC (2013), WMO (2014), Nature Climate Change (2013), Miller (1998), Bradford (2014), Sobel (2014) Bằng chứng thực nghiệm về hiện tượng ấm lên toàn cầu, nước biển dâng, bão cực đoan, tuyệt chủng loài và tác động y tế.
Đạo đức sinh thái & Quản lý môi trường Leopold (1949), Brown (2001), Nightingale (2006), Dunlap & Jones (2002), Svendsen & Campbell (2008), Panwar (2011) Khái niệm đạo đức đất đai (land ethic), sự chăm sóc đời sống cộng đồng, phúc lợi sinh vật và trách nhiệm quản lý sinh thái.
Giáo dục môi trường & Tính bền vững Báo cáo Brundtland (1987), Tuyên bố Tbilisi (UNESCO-UNEP, 1978), Agenda 21 (1992), Fien (1993), Orr (1992) 5 mục tiêu giáo dục môi trường; thúc đẩy mô hình dung hòa giữa môi trường, xã hội và kinh tế.
Phê bình văn học môi trường Ogundokun (2014), Stott (2014) Tiếp cận xã hội học trong văn học; 7 tiêu chuẩn thẩm định tác phẩm văn học.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là việc kết nối các tri thức khoa học môi trường và các nguyên lý giáo dục bền vững vào việc giải mã hai văn bản phi hư cấu của Al Gore. Luận án đặt hai tác phẩm này vào vị trí đối tượng phân tích văn học, khai thác sự kết hợp giữa tư tưởng triết học sinh thái và các kỹ thuật ngôn từ, đồng thời chuyển hóa các giá trị đó thành định hướng giáo dục thực tiễn cho sinh viên Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên sự kết hợp giữa các trường phái phê bình văn học và lý thuyết sinh thái học liên ngành:

  • Thuyết Đồng tiến hóa Xã hội - Tự nhiên (Society-Nature Coevolution Theory) do Paul R. Ehrlich và Peter H. Raven khởi xướng đóng vai trò là nền tảng hỗ trợ. Thuyết này lý giải rằng sự phát triển của xã hội loài người và các quá trình tiến hóa của tự nhiên có sự tương tác, phụ thuộc và tác động qua lại chặt chẽ; mọi biến động trong hệ thống tự nhiên đều dẫn tới những hệ quả trực tiếp đối với tổ chức xã hội loài người.
  • Tiếp cận xã hội học (Sociological approach) trong phê bình văn học: Xem văn học như một thể chế xã hội và tấm gương phản chiếu hiện thực. Phương pháp này khảo sát tác phẩm văn học trong mối liên hệ với hoàn cảnh kinh tế - xã hội, cấu trúc quyền lực và các vấn đề thời đại mà văn bản phản ánh (theo Ogundokun, 2014).
  • Tiếp cận triết học (Philosophical approach) trong phê bình văn học: Tập trung phân tích các tư tưởng đạo đức, nhân sinh quan, thế giới quan và chiều kích luân lý về mối quan hệ giữa con người với vũ trụ mà tác giả gửi gắm trong văn bản.
  • Bảy tiêu chuẩn văn học của Stott (2014): Được tác giả sử dụng làm quy tắc chỉ dẫn để xác định và đánh giá giá trị văn học của hai tác phẩm phi hư cấu được chọn.
  • Khung khái niệm về mối quan tâm sinh thái (Ecological concern): Khảo sát theo 4 thành tố: (1) Tôn trọng Trái Đất và sự sống trong toàn bộ tính đa dạng; (2) Bảo vệ năng lực tái sinh của Trái Đất; (3) Chăm sóc đời sống cộng đồng; (4) Trân trọng vẻ đẹp và sự phong phú của Trái Đất.
  • Khung khái niệm về tính bền vững (Sustainability): Phân tích thông qua sự dung hòa của ba nhóm yêu cầu: yêu cầu về môi trường, yêu cầu về công bằng xã hội và yêu cầu về kinh tế.

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính (Qualitative research method) thuần túy, không sử dụng các kỹ thuật thống kê lượng hóa số liệu thực nghiệm xã hội. Kỹ thuật phân tích cụ thể là Phân tích nội dung (Content analysis) – một kỹ thuật mang tính hệ thống dùng để khảo sát nội dung thông điệp (message content) và cách thức xử lý thông điệp (message handling). Quá trình phân tích tập trung vào việc tìm kiếm mô thức (pattern seeking) và trích xuất ý nghĩa từ các dữ liệu tự sự (narrative) và dữ liệu hình ảnh (image data) trong các tác phẩm của Al Gore.

Quy trình xử lý tài liệu (Treatment of materials) của nghiên cứu bao gồm các bước:

  1. Ghi nhận dữ liệu văn bản và ghi chép thông qua việc xác lập các khái niệm và danh mục chủ đề;
  2. Liên kết và tích hợp các khái niệm trừu tượng với các biểu hiện thực tế trong tác phẩm;
  3. Trích xuất bản chất ý nghĩa của thông điệp sinh thái;
  4. Tổ chức và cấu trúc hóa các tầng nghĩa;
  5. Viết diễn giải và rút ra các kết luận nghiên cứu.

Nguồn tư liệu nghiên cứu trực tiếp bao gồm hai tác phẩm: Earth in the Balance (1992) và An Inconvenient Truth: The Planetary Emergency of Global Warming and What We Can Do About It (2006).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Vấn đề nghiên cứu (The Problem)

Chương I mở đầu bằng việc thiết lập bức tranh tổng thể về khủng hoảng sinh thái toàn cầu, liệt kê 15 vấn đề môi trường cấp bách hiện nay: ô nhiễm, bùng nổ dân số, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, xử lý chất thải, biến đổi khí hậu, mất đa dạng sinh học, phá rừng, axit hóa đại dương, suy giảm tầng ozone, mưa axit, ô nhiễm nước, mở rộng đô thị tự phát, các vấn đề sức khỏe cộng đồng, kỹ thuật di truyền và hiện tượng ấm lên toàn cầu. Tác giả nhấn mạnh đặc thù môi trường khu vực Đông Nam Á và đưa ra các số liệu cụ thể về Việt Nam: nhiệt độ trung bình tăng khoảng 0,7°C, mực nước biển dâng khoảng 20 cm trong vòng nửa thế kỷ, cùng sự gia tăng của bão, lũ lụt và hạn hán (ISPONRE, 2009; Cổng thông tin Hiện trạng Môi trường Việt Nam, 2014). Tiếp đó, chương này giới thiệu tiểu sử tác giả Al Gore, hoàn cảnh ra đời của Earth in the Balance (1992) sau biến cố tai nạn giao thông nghiêm trọng của con trai ông, và An Inconvenient Truth (2006) – tác phẩm được chuyển thể thành phim tài liệu đoạt giải Oscar và giải Grammy cho Album Lời nói Xuất sắc nhất năm 2009. Chương này xác định rõ mục tiêu, 5 câu hỏi nghiên cứu, phạm vi, các tác phẩm và trường phái lý thuyết bị loại trừ, đồng thời làm rõ ý nghĩa của nghiên cứu đối với các nhà quản lý giáo dục, người đi làm, giảng viên văn học, sinh viên văn học và các nhà nghiên cứu.

Chương II: Tổng quan tài liệu (Review of Literature)

Chương này triển khai phần tài liệu khái niệm (Conceptual Literature) và tổng hợp lý thuyết liên quan đến hiện tượng nóng lên toàn cầu, quản lý sinh thái và giáo dục môi trường. Tác giả trình bày các dữ liệu thực nghiệm từ IPCC (2013), WMO (2014), Nature Climate Change (2013), EPA (2014), Sobel (2014) và Bradford (2014) về các hiện tượng băng tan Bắc Cực năm 2012, sự suy giảm sông băng tại Montana, mực nước biển dâng và các rủi ro sức khỏe từ AMA. Đồng thời, chương này tổng thuật các tư tưởng đạo đức sinh thái của Leopold (1949), Brown (2001), Nightingale (2006), Dunlap và Jones (2002), Rauner (2000), Panwar (2011) và Rawls; hệ thống hóa các văn kiện giáo dục môi trường quốc tế từ Hội nghị Tbilisi (1977), Đại hội Moscow (1987), Báo cáo Brundtland (1987), Chiến lược Bảo tồn Thế giới (1980), Caring for the Earth (1991) đến Chương trình Nghị sự 21 (1992). Chương II kết thúc bằng phần Tổng hợp (Synthesis), xác lập Hình 1: Mô hình khái niệm của nghiên cứu (Conceptual Paradigm of the Study) ở trang 82 và phần Định nghĩa các thuật ngữ chính (Definition of Terms).

Chương III: Phương pháp và quy trình nghiên cứu (Research Method and Procedure)

Chương III trình bày chi tiết về thiết kế nghiên cứu định tính và phương pháp phân tích nội dung có hệ thống. Tác giả làm rõ các tiêu chí lựa chọn ngữ liệu dựa trên 7 tiêu chuẩn văn học của Stott (2014). Phần xử lý tài liệu mô tả quy trình trích xuất ý nghĩa từ các đoạn văn tự sự và hệ thống dữ liệu hình ảnh trực quan trong hai tác phẩm của Al Gore. Quy trình nghiên cứu được tiến hành qua các thao tác hệ thống hóa ghi chép, phân loại khái niệm, liên kết lý thuyết đồng tiến hóa xã hội - tự nhiên của Ehrlich và Raven với các dữ kiện văn bản, từ đó xây dựng các căn cứ phân tích cho các chương tiếp theo.

Chương IV: Phân tích và diễn giải (Analysis and Interpretation)

Chương IV là phần trọng tâm của luận án, thực hiện phân tích chi tiết hai tác phẩm của Al Gore nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu:

  • Về suy ngẫm môi trường của tác giả: Luận án làm rõ cách thức Al Gore mô tả hiện tượng nóng lên toàn cầu như một cuộc khủng hoảng hành tinh và mối đe dọa lớn nhất của thời đại, tác động toàn diện đến sức khỏe con người, sự ổn định cộng đồng, nền kinh tế và an ninh quốc gia do các hoạt động thiếu kiểm soát của con người gây ra.
  • Về biểu hiện của mối quan tâm sinh thái: Văn bản thể hiện rõ 4 khía cạnh: (1) Tôn trọng Trái Đất và sự đa dạng sinh học thông qua việc lên án tình trạng hủy hoại sinh cảnh; (2) Bảo vệ năng lực tái sinh của Trái Đất thông qua lời kêu gọi chấm dứt việc khai thác kiệt quệ tài nguyên; (3) Chăm sóc đời sống cộng đồng qua việc gắn kết trách nhiệm đạo đức của con người với sự sinh tồn của các nhóm cư dân dễ bị tổn thương; (4) Trân trọng vẻ đẹp và sự phong phú của tự nhiên như một nguồn nâng đỡ tinh thần con người.
  • Về biểu hiện của tính bền vững: Luận án chứng minh Al Gore đã chủ trương dung hòa ba đòi hỏi: bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm công bằng xã hội (bảo vệ quyền lợi của các thế hệ tương lai và các cộng đồng nghèo) và tái cấu trúc các đòi hỏi kinh tế theo hướng bền vững.
  • Về các biện pháp tu từ văn học: Al Gore đã kết hợp lối hành văn tự sự giàu tính tự thuật với văn phong miêu tả chi tiết, sử dụng các hình ảnh trực quan sinh động và hệ thống số liệu khoa học chính xác để kích thích trí tưởng tượng của độc giả và tăng sức thuyết phục cho các lập luận môi trường.
  • Về các tiếp cận văn học: Hai tác phẩm được chứng minh là các văn bản văn hóa - xã hội và tài liệu triết học tiêu biểu, phản ánh các mâu thuẫn xã hội của thời đại và truyền tải một hệ thống đạo đức sinh thái có cơ sở lý luận rõ ràng.
  • Về bài học quản lý sinh thái cho sinh viên Việt Nam: Phân tích chỉ ra rằng sinh viên Việt Nam có thể tiếp thu tinh thần tôn trọng thiên nhiên của Al Gore và hiện thực hóa thông qua việc thực hành các nguyên tắc thân thiện với môi trường trong đời sống thường nhật.

Chương V: Tóm tắt, kết luận và kiến nghị (Summary, Conclusions and Recommendations)

Chương V tổng kết các kết quả nghiên cứu chính (Summary of Findings) ở trang 339, cung cấp phần tóm tắt nội dung của các tác phẩm được lựa chọn (Summaries of the Selections) ở trang 340. Chương này khẳng định rằng hai tác phẩm của Al Gore đã thể hiện rõ nét mối quan tâm sinh thái sâu sắc và các nguyên tắc phát triển bền vững, kết hợp hài hòa giữa chứng cứ khoa học và ngôn từ nghệ thuật. Từ đó, tác giả đưa ra các kiến nghị đối với nhà trường và sinh viên Việt Nam trong việc tích hợp giáo dục môi trường vào chương trình giảng dạy và thúc đẩy lối sống có trách nhiệm với sinh thái.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án đóng góp vào việc mở rộng phạm vi ứng dụng của phê bình văn học đối với các tác phẩm văn học phi hư cấu (non-fiction) và văn liệu môi trường. Nghiên cứu khẳng định rằng các văn bản tài liệu và diễn ngôn chính trị - môi trường của Al Gore hoàn toàn đáp ứng các tiêu chuẩn thẩm mỹ và cấu trúc của một tác phẩm văn học theo tiêu chí của Stott (2014). Đồng thời, luận án đã vận dụng hiệu quả Thuyết Đồng tiến hóa Xã hội - Tự nhiên của Ehrlich và Raven kết hợp với tiếp cận phê bình xã hội học và triết học, tạo ra một khung phân tích liên ngành để giải mã các thông điệp môi trường trong văn bản ngôn từ.

Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các đóng góp cụ thể:

  • Làm sáng tỏ cách thức một nhà hoạt động môi trường sử dụng ngôn ngữ văn học, biện pháp tự sự và chứng cứ trực quan để truyền tải các khái niệm khoa học phức tạp về hiện tượng nóng lên toàn cầu đến công chúng.
  • Xác lập hệ thống tiêu chí phân tích mối quan tâm sinh thái gồm 4 thành tố (tôn trọng sự sống đa dạng, bảo vệ năng lực tái sinh, chăm sóc cộng đồng, trân trọng vẻ đẹp tự nhiên) và mô hình bền vững 3 trụ cột (môi trường, công bằng xã hội, kinh tế) trong văn bản phi hư cấu.
  • Đúc kết các bài học về đạo đức quản lý sinh thái có thể ứng dụng trực tiếp cho sinh viên Việt Nam, giúp người học chuyển hóa nhận thức lý thuyết thành ý thức trách nhiệm và hành động thực tiễn trong bối cảnh Việt Nam chịu tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu.

Về mặt kiến nghị và giải pháp, luận án đề xuất:

  • Cán bộ quản lý giáo dục đại học cần đưa các nội dung giáo dục sinh thái và phát triển bền vững vào chương trình đào tạo của các ngành học, tạo điều kiện cho các hoạt động ngoại khóa liên quan đến môi trường.
  • Giảng viên giảng dạy văn học cần đổi mới phương pháp, khai thác văn học như một diễn ngôn xã hội có khả năng truyền tải các vấn đề thời sự, hướng dẫn sinh viên áp dụng các tiếp cận phê bình xã hội học và triết học.
  • Sinh viên cần tiếp thu tinh thần quản lý sinh thái của Al Gore, biến các nguyên tắc thân thiện với môi trường thành hành động cụ thể hàng ngày để bảo vệ hệ sinh thái địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định rõ các điểm giới hạn sau:

  • Phạm vi ngữ liệu chỉ khảo sát hai cuốn sách của Al Gore xuất bản năm 1992 và 2006, không bao gồm các tác phẩm khác của cùng tác giả như The Future: Six Drivers of Global Change, An Inconvenient Truth: The Crisis of Global Warming, Our Choice: A Plan to Solve the Climate Crisis, Our Choice: How We Can Solve the Climate Crisis, và ấn bản Earth in the Balance: Forging a New Common Purpose.
  • Phạm vi lý thuyết bị giới hạn ở tiếp cận phê bình xã hội học và triết học; luận án không áp dụng các trường phái phê bình văn học khác như Phê bình Hình thức luận, Phê bình Tiểu sử, Phê bình Lịch sử hay Phê bình Tâm lý học.
  • Luận án chỉ giới hạn khảo sát các bài học quản lý sinh thái hướng tới đối tượng người học là sinh viên Việt Nam, chưa mở rộng ra các đối tượng xã hội khác.

Về hướng nghiên cứu tiếp, văn bản gợi ý các nhà nghiên cứu sau này có thể:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các tác phẩm còn lại của Al Gore hoặc các tác giả văn học môi trường khác trên thế giới để củng cố các luận điểm về đạo đức sinh thái.
  • Vận dụng các phương pháp phê bình văn học khác như Phê bình Hình thức luận hoặc Phê bình Tâm lý học để phân tích sâu hơn cấu trúc văn bản hoặc tâm lý học sinh thái của tác giả và nhân vật.
  • Tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm nhằm đánh giá hiệu quả của việc đưa các bài học quản lý sinh thái từ văn học vào việc thay đổi hành vi thực tế của sinh viên trong hệ thống giáo dục đại học.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo rõ ràng cho các nhóm đối tượng cụ thể:

  • Cán bộ quản lý giáo dục (Academic managers): Cung cấp cơ sở lý luận và định hướng để xây dựng các hoạt động tích hợp giáo dục môi trường vào chương trình đào tạo, nâng cao nhận thức bảo vệ Trái Đất cho cộng đồng học thuật.
  • Giảng viên giảng dạy văn học (College instructors of literature): Là tài liệu tham khảo về phương pháp luận giảng dạy văn học như một diễn ngôn xã hội, chỉ dẫn cách thức vận dụng lý thuyết phê bình xã hội học và triết học trong việc giải mã các tác phẩm văn xuôi phi hư cấu.
  • Sinh viên ngành văn học và nghiên cứu sinh (Students of literature & Researchers): Giúp mở rộng nhãn quan về mối quan hệ giữa văn học và sinh thái, nâng cao năng lực thẩm định các biện pháp tu từ và kỹ thuật phân tích nội dung định tính trong nghiên cứu văn học; đồng thời cung cấp quy trình trích xuất lý thuyết phê bình văn học từ các chủ đề môi trường.
  • Người đi làm và các chuyên gia (Working professionals): Gợi mở các sáng kiến tổ chức hoạt động hỗ trợ phát triển bền vững và quản lý môi trường tại nơi làm việc thuộc nhiều lĩnh vực xã hội khác nhau.

Phần đáng tham khảo nhất của luận án là Chương II (với hệ thống tổng quan tài liệu đa ngành rất chi tiết về khoa học khí hậu, đạo đức học và các công ước quốc tế) cùng Chương IV (mô hình phân tích nội dung kết hợp giữa tự sự, hình ảnh và tư tưởng triết học sinh thái).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn những tác phẩm nào của Al Gore làm đối tượng nghiên cứu và căn cứ trên tiêu chuẩn nào?
Luận án lựa chọn hai tác phẩm đại diện của Al Gore là Earth in the Balance (1992) và An Inconvenient Truth: The Planetary Emergency of Global Warming and What We Can Do About It (2006). Việc lựa chọn dựa trên sự tương thích của hai văn bản với chủ đề mối quan tâm sinh thái và tính bền vững, đồng thời tuân thủ 7 tiêu chuẩn văn học của Stott (2014) để bảo đảm các văn bản phi hư cấu này đáp ứng đầy đủ tính chất của một tác phẩm văn học.

2. Lý thuyết khoa học tự nhiên nào được sử dụng để hỗ trợ cho các tiếp cận phê bình văn học trong luận án?
Luận án sử dụng Thuyết Đồng tiến hóa Xã hội - Tự nhiên (Society-Nature Coevolution Theory) của Paul R. Ehrlich và Peter H. Raven làm nền tảng hỗ trợ cho hai tiếp cận phê bình văn học chính là tiếp cận xã hội học và tiếp cận triết học.

3. Tác giả đã trích dẫn những số liệu cụ thể nào về tình trạng biến đổi khí hậu tại Việt Nam trong phần mở đầu?
Tác giả trích dẫn các dữ kiện từ Viện Chiến lược và Chính sách Tài nguyên và Môi trường (ISPONRE, 2009) và Cổng thông tin Hiện trạng Môi trường Việt Nam (2014), nêu rõ: trong 50 năm qua, nhiệt độ bề mặt trung bình ở Việt Nam đã tăng khoảng 0,7°C, mực nước biển dọc bờ biển dâng khoảng 20 cm, cùng với sự gia tăng tiêu cực của các hiện tượng El-Nino, La-Nina, bão nhiệt đới, lũ lụt và hạn hán.

4. Mối quan tâm sinh thái (ecological concern) trong các tác phẩm của Al Gore được phân tích qua những khía cạnh cụ thể nào?
Mối quan tâm sinh thái được phân tích theo 4 khía cạnh cụ thể: (1) Tôn trọng Trái Đất và sự sống trong toàn bộ tính đa dạng; (2) Bảo vệ năng lực tái sinh của Trái Đất; (3) Chăm sóc đời sống cộng đồng; và (4) Trân trọng vẻ đẹp cùng sự phong phú của Trái Đất.

5. Những tác phẩm nào của Al Gore và trường phái phê bình văn học nào bị loại trừ khỏi phạm vi nghiên cứu?
Luận án loại trừ các tác phẩm: The Future: Six Drivers of Global Change, An Inconvenient Truth: The Crisis of Global Warming, Our Choice: A Plan to Solve the Climate Crisis, Our Choice: How We Can Solve the Climate Crisis, và Earth in the Balance: Forging a New Common Purpose. Về phương diện lý thuyết, các trường phái phê bình bị loại trừ gồm có: Phê bình Hình thức luận, Phê bình Tiểu sử, Phê bình Lịch sử và Phê bình Tâm lý học.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Phùng Thị Thu Hà là công trình nghiên cứu định tính thuộc chuyên ngành Tiếng Anh, phân tích mối quan tâm sinh thái và tính bền vững trong hai tác phẩm tiêu biểu của Al Gore thông qua tiếp cận xã hội học và triết học văn học có sự hỗ trợ của Thuyết Đồng tiến hóa Xã hội - Tự nhiên. Nghiên cứu đã làm sáng tỏ cách thức tác giả sử dụng các biện pháp tu từ, dữ liệu khoa học và hình ảnh tự sự để phản ánh tình trạng khẩn cấp của hiện tượng ấm lên toàn cầu, đồng thời dung hòa các đòi hỏi về môi trường, công bằng xã hội và kinh tế. Dựa trên các phát hiện phân tích nội dung, luận án xác lập những bài học cụ thể về đạo đức quản lý sinh thái nhằm định hướng nhận thức và hành động bảo vệ môi trường cho sinh viên Việt Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu.