Tổng quan nghiên cứu

Trong cấu trúc quản trị hiện đại, sự vận hành của một quốc gia dân chủ được nâng đỡ bởi 3 trụ cột căn bản: Nhà nước, Thị trường và Xã hội dân sự. Theo Báo cáo năm 1997 của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Annan, các tổ chức phi chính phủ và các chủ thể xã hội dân sự đã vượt khỏi vai trò cung cấp dịch vụ đơn thuần để trở thành lực lượng trực tiếp tham gia xây dựng, hoạch định chính sách toàn cầu. Tại Việt Nam, các khảo sát xã hội học ghi nhận 73,5% người dân tham gia vào ít nhất một tổ chức xã hội, với mật độ tham gia trung bình đạt 2,33 tổ chức trên mỗi công dân. Tuy nhiên, nhận thức lý luận và thực tiễn thể chế về mối quan hệ giữa xã hội dân sự và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vẫn còn nhiều khoảng trống, dẫn đến tình trạng hành chính hóa và hạn chế không gian phát triển của các tổ chức tự quản.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Xác lập bản chất lý luận, đánh giá thực trạng cấu trúc và định vị vai trò của xã hội dân sự trong mối quan hệ tương hỗ với Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa các tư tưởng chính trị - pháp lý từ cổ đại đến hiện đại, phân tích hoạt động của gần 300 hiệp hội cấp quốc gia cùng hơn 2.000 hội cấp tỉnh, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia. Phạm vi nghiên cứu bao quát tiến trình đổi mới thể chế từ năm 1986 đến năm 2010. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học giúp tối ưu hóa nguồn lực con người, nâng cao chỉ số dân chủ cơ sở và định hướng hoàn thiện khung pháp luật về hội trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hệ thống lý luận đa tầng bậc để làm sáng tỏ mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội. Trước hết là Thuyết Khế ước xã hội bắt nguồn từ thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII của Thomas Hobbes, John Locke, Jean-Jacques Rousseau và Montesquieu, khẳng định quyền lực nhà nước bắt nguồn từ sự ủy thác tự nguyện của công dân nhằm bảo vệ các quyền tự nhiên. Kế tiếp là Triết học pháp quyền của Georg Wilhelm Friedrich Hegel, nhìn nhận xã hội dân sự như một hệ thống nhu cầu tự quản độc lập nhưng vận động trong sự điều tiết của nhà nước lập hiến. Đặc biệt, luận văn lấy Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và lý luận về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng của Karl Marx và Friedrich Engels làm kim chỉ nam phương pháp luận, tiêu biểu qua các tác phẩm Hệ tư tưởng Đức giai đoạn 1845-1846 và Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hegel năm 1843. Khung phân tích vận hành dựa trên 4 khái niệm trung tâm: Xã hội dân sự, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Tổ chức xã hội dân sự (CSO) và Quyền tự do hiệp hội, đặt trong mô hình tương tác cân bằng giữa khu vực công, khu vực tư nhân và khu vực thứ ba.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn, thu thập từ hơn 50 văn bản quy phạm pháp luật và văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 1992, cùng các văn bản chuyên ngành như Nghị định 88/2003/NĐ-CP và Quyết định 21/2003/QĐ-TTg. Về mặt thực nghiệm, tác giả khai thác dữ liệu từ cuộc điều tra quy mô trên 322 tổ chức công dân tại Thành phố Hồ Chí Minh và bộ tiêu chí Chỉ số Xã hội Dân sự (CSI) do Liên minh Toàn cầu vì sự Tham gia của Công dân (CIVICUS) triển khai tại hơn 50 quốc gia trong giai đoạn 2004-2006.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để khảo sát 322 tổ chức, bao phủ đủ 7 nhóm thực thể đặc thù của Việt Nam bao gồm: Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, các liên hiệp hội, hiệp hội nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ trong nước (NGO), tổ chức phi chính phủ quốc tế, tổ chức tôn giáo - từ thiện và các nhóm cộng đồng không chính thức. Luận văn kết hợp phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch và luật học so sánh. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm đảm bảo tính khách quan lịch sử, giúp đối chiếu đa chiều giữa mô hình nhà nước pháp quyền phương Tây và điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam trong suốt timeline nghiên cứu từ năm 1986 đến tháng 8 năm 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra sự gia tăng nhanh chóng về số lượng các tổ chức xã hội dân sự song hành cùng tiến trình Đổi mới. Nếu như năm 1995 toàn quốc chỉ có khoảng 143 hiệp hội chuyên ngành cấp quốc gia, thì con số này đã tăng lên 240 hội vào năm 2001 và đạt 320 hội vào năm 2005. Đến năm 2010, Việt Nam đã có gần 300 hội hoạt động trên phạm vi toàn quốc, hơn 2.000 hội cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và hàng chục vạn hội đoàn ở cấp quận, huyện, xã, phường.

Thứ hai, mật độ thành viên tổ chức xã hội tại Việt Nam đạt mức rất cao nhưng mức độ chủ động còn hạn chế. Tỷ lệ công dân tham gia ít nhất 1 tổ chức đạt 73,5%, với mức tham gia bình quân là 2,33 tổ chức trên một người. Chỉ số này cao vượt trội khi so sánh với các quốc gia trong khu vực như Trung Quốc với 0,93 tổ chức trên một người hay Singapore với 0,86 tổ chức trên một người. Mặc dù vậy, phần lớn sự tham gia tại các đoàn thể truyền thống vẫn mang tính chất kết nạp hành chính thụ động thay vì động lực tự nguyện nội tại.

Thứ ba, cơ cấu trình độ học vấn của đội ngũ quản trị có sự phân hóa sâu sắc giữa các loại hình tổ chức. Khảo sát 322 tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: Nhóm hiệp hội nghề nghiệp ngoài quốc doanh sở hữu tỷ lệ lãnh đạo có trình độ sau đại học cao nhất, với 22% Tiến sĩ và 24% Thạc sĩ; trong khi tỷ lệ này ở các cơ quan nhà nước chỉ là 3% Tiến sĩ và ở các đoàn thể nhân dân chỉ đạt 1% Tiến sĩ. Ngược lại, tỷ lệ nhân viên có trình độ cử nhân đại học và cao đẳng tại các cơ quan nhà nước chiếm ưu thế với 71%, so với 29% tại đoàn thể nhân dân và 52% tại các tổ chức xã hội khác.

Thứ tư, nguồn lực tài chính của các tổ chức xã hội phân mảnh rõ rệt. Các tổ chức chính trị - xã hội nhận hỗ trợ gần như tuyệt đối từ ngân sách nhà nước, trong khi các tổ chức phi chính phủ và nhóm cộng đồng phụ thuộc tới hơn 80% vào nguồn tài trợ quốc tế và phí hội viên tự đóng góp.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân hóa trên bắt nguồn từ tàn dư của cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp trước năm 1986, khi các đoàn thể quần chúng bị hành chính hóa và trở thành cơ quan chấp hành thay vì giữ vai trò đại diện độc lập. Môi trường pháp lý với sự thiếu vắng một đạo luật khung về hội đã tạo ra rào cản khiến các tổ chức phi chính phủ gặp khó khăn trong việc đăng ký pháp nhân và tham gia phản biện chính sách.

Khi so sánh với quốc tế, quy mô tài sản và tính chuyên nghiệp của các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam còn khiêm tốn. Tại Hoa Kỳ, có khoảng 1,5 triệu tổ chức phi lợi nhuận quản lý khối tài sản lên tới 500 tỷ USD; tại Hungary có 40.000 tổ chức; tại Thái Lan có hơn 11.000 tổ chức. Sự chênh lệch này khẳng định Việt Nam cần mở rộng không gian tự chủ cho khu vực thứ ba nhằm kích hoạt nguồn vốn xã hội.

Để trực quan hóa các phát hiện nghiên cứu, dữ liệu về trình độ học vấn của các nhà quản trị có thể được thể hiện qua biểu đồ cột ghép (Grouped Bar Chart) so sánh tỷ lệ Tiến sĩ, Thạc sĩ và Cử nhân giữa 3 khối: Cơ quan nhà nước, Đoàn thể nhân dân và Hiệp hội ngoài quốc doanh. Sự tăng trưởng số lượng hiệp hội từ 143 tổ chức năm 1995 lên 320 tổ chức năm 2005 phù hợp để biểu diễn qua biểu đồ đường (Line Chart), kết hợp cùng bảng thống kê phân loại 7 nhóm thực thể nhằm làm nổi bật cơ cấu tổ chức xã hội dân sự Việt Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa mối quan hệ giữa xã hội dân sự và Nhà nước pháp quyền:

Thứ nhất, Quốc hội và các cơ quan lập pháp cần nhanh chóng xây dựng và ban hành Luật về Hội trong giai đoạn 2011-2015 nhằm thay thế Sắc lệnh số 102/SL và 103/SL ban hành từ năm 1957. Đạo luật này cần chuẩn hóa 100% quy trình đăng ký, thành lập, hoạt động và giải thể hội theo hướng chuyển từ cơ chế xin - cho sang cơ chế đăng ký công khai, bảo đảm quyền tự do lập hội hợp hiến của mọi công dân.

Thứ hai, Chính phủ và Bộ Tài chính cần thiết lập cơ chế chuyển giao dịch vụ công và phân bổ ngân sách thông qua đấu thầu minh bạch. Thay vì cấp phát bao cấp toàn bộ cho các tổ chức truyền thống, Nhà nước cần tạo cơ chế đặt hàng bình đẳng cho cả các tổ chức phi chính phủ và hiệp hội nghề nghiệp, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ tự chủ tài chính của hơn 2.000 hội cấp tỉnh lên mức tối thiểu 50% trước năm 2020.

Thứ ba, Bộ Nội vụ phối hợp cùng Mặt trận Tổ quốc và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) triển khai các chương trình chuẩn hóa năng lực cho cán bộ xã hội dân sự. Mục tiêu đặt ra là đào tạo chuyên môn về quản trị dự án, huy động vốn cộng đồng và kỹ năng phản biện chính sách cho khoảng 10.000 cán bộ chuyên trách và tình nguyện viên mỗi năm.

Thứ tư, Ban Tuyên giáo và các cơ quan thông tấn báo chí cần đổi mới công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của đội ngũ công chức và nhân dân về vai trò tích cực của xã hội dân sự. Các cơ quan soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật phải quy định bắt buộc việc lấy ý kiến phản biện độc lập từ các tổ chức xã hội đối với 100% các dự thảo luật và chính sách kinh tế - xã hội trọng điểm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách, đại biểu Quốc hội và cán bộ pháp chế tại Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ: Luận văn cung cấp cơ sở lý luận từ hơn 50 văn bản quy phạm pháp luật để phục vụ trực tiếp quá trình thẩm tra, hoàn thiện dự thảo Luật về Hội và các chính sách quản trị nhà nước.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Luật học, Khoa học Chính trị và Quản lý công: Tài liệu mang lại hệ thống tri thức chuẩn xác về lịch sử tư tưởng chính trị và phương pháp luận so sánh, hỗ trợ giảng dạy và học tập tại hơn 20 trường đại học, viện nghiên cứu trên cả nước.

Thứ ba, lãnh đạo các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội doanh nghiệp, hội ngành nghề và các tổ chức từ thiện: Cung cấp góc nhìn toàn diện về thực trạng quản trị từ 322 tổ chức được khảo sát, giúp các nhà quản lý xây dựng chiến lược phát triển bền vững và mở rộng mạng lưới đối tác.

Thứ tư, các tổ chức phát triển quốc tế và cơ quan tài trợ song phương: Tài liệu giúp hiểu rõ cấu trúc 7 nhóm xã hội dân sự tại Việt Nam, từ đó thiết kế các chương trình viện trợ phát triển và hỗ trợ cộng đồng đạt hiệu quả tối ưu.

Câu hỏi thường gặp

Xã hội dân sự có đối lập với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam không? Xã hội dân sự không đối lập mà là nền tảng kinh tế - xã hội chế định Nhà nước pháp quyền. Theo quan điểm Mác - Lênin, xã hội dân sự tạo không gian thực thi quyền làm chủ cho 73,5% công dân tham gia hội đoàn, giúp Nhà nước khắc phục các khiếm khuyết trong cung ứng dịch vụ công và kiểm soát quyền lực thông qua phản biện xã hội lành mạnh.

Cấu trúc xã hội dân sự tại Việt Nam bao gồm những thành phần cơ bản nào? Căn cứ nghiên cứu thực tiễn, xã hội dân sự Việt Nam gồm 7 nhóm chính: Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội nòng cốt, các liên hiệp hội trực thuộc, hơn 320 hiệp hội nghề nghiệp toàn quốc, các tổ chức phi chính phủ trong nước, các nhóm cộng đồng tự quản, tổ chức tôn giáo - từ thiện và các tổ chức phi chính phủ quốc tế.

Tại sao mật độ tham gia tổ chức của công dân Việt Nam cao nhưng tính chủ động chưa tương xứng? Mật độ tham gia đạt 2,33 tổ chức trên một người, cao gấp 2,5 lần so với Trung Quốc là 0,93, nhưng hiệu quả chưa cao do ảnh hưởng của thói quen bao cấp hành chính. Nhiều đoàn thể vẫn hoạt động theo phương thức cơ quan nhà nước, thiếu cơ chế tự chủ và thiếu vắng đội ngũ quản lý được đào tạo bài bản khi chỉ có 1% cán bộ đoàn thể đạt trình độ sau đại học.

Đặc điểm nổi bật về nguồn nhân lực trong các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam là gì? Khảo sát chỉ ra sự chênh lệch lớn về trình độ quản lý: Khối hiệp hội ngoài quốc doanh sở hữu tỷ lệ lãnh đạo có học vị Tiến sĩ là 22% và Thạc sĩ là 24%, cao vượt bậc so với tỷ lệ 3% Tiến sĩ ở cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, tỷ lệ nhân viên có bằng đại học tại cơ quan công quyền lại chiếm ưu thế với 71% so với 29% ở khối đoàn thể.

Đâu là giải pháp mang tính đột phá để thúc đẩy xã hội dân sự phát triển đúng hướng? Giải pháp đột phá nhất là Quốc hội sớm ban hành Luật về Hội nhằm thay thế sắc lệnh từ năm 1957, tạo hành lang pháp lý minh bạch cho hơn 2.000 hội địa phương hoạt động, kết hợp cơ chế đấu thầu dịch vụ công giúp các tổ chức xã hội đạt mức tự chủ tài chính tối thiểu 50%.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu và tạo ra những giá trị học thuật nổi bật:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa xã hội dân sự và Nhà nước pháp quyền từ góc độ duy vật lịch sử và luật học so sánh.
  • Phác họa bức tranh thực tiễn sinh động của gần 300 hiệp hội quốc gia, hơn 2.000 hội cấp tỉnh và mạng lưới 73,5% công dân tham gia hội đoàn.
  • Phân tích sâu sắc sự phân hóa nhân lực với 22% Tiến sĩ tại khối hiệp hội ngoài quốc doanh và nhận diện điểm nghẽn hành chính hóa thể chế.
  • Xác lập lộ trình hoàn thiện thể chế qua đề xuất ban hành Luật về Hội và chương trình chuẩn hóa 10.000 cán bộ quản lý mỗi năm.
  • Khẳng định tính tất yếu của việc xây dựng xã hội dân sự vững mạnh như một điều kiện tiên quyết để củng cố Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Để tiếp tục phát triển chủ đề nghiên cứu, các nhà khoa học và cơ quan quản lý cần đẩy mạnh các đề tài khảo sát chuyên sâu theo từng vùng kinh tế trọng điểm. Hãy cùng khai phóng nguồn lực xã hội dân sự để kiến tạo một nền quản trị quốc gia minh bạch, hiện đại và bền vững trong tương lai.