Chương 1 SỞ LÝ LUẬN CỦA GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về giải thích pháp luật 1. Khái niệm giải thích pháp luật Giải thích pháp luật được tiếp cận từ nhiều phương diện, tuy có sự thống nhất song cũng bao hàm cả sự khác biệt nhất định ở các quốc gia trên thế giới. Mỗi quốc gia đều có sự tiếp cận giải thích pháp luật nhất định, có nhiều định nghĩa về giải thích pháp luật.
Theo quan điểm của các nhà khoa học Nga, giải thích pháp luật bao gồm hai phương diện của giải thích pháp luật, hai bộ phận hợp thành: làm sáng rõ ý nghĩa, lời văn của các quy định pháp luật và giải thích pháp luật. Làm sáng rõ ý nghĩa, lời văn của các quy định pháp luật có mục đích xác lập ý nghĩa của quy định pháp luật, còn giải thích pháp luật lại có mục đích cụ thể hơn là giải thích rõ ý nghĩa của các thuật ngữ, quy định đó tác động đến những đối tượng nào, mối tương quan giữa các quy định đó với những quy định ráp ranh… Các nhà nghiên cứu pháp lý ở Việt Nam đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về giải thích pháp luật. Có những định nghĩa tập trung xác định phạm vi, khu vực của giải thích pháp luật là tại nơi diễn ra hoạt động áp dụng pháp luật; có định nghĩa tiếp cận giải thích pháp luật dưới góc độ ngữ nghĩa của thuật ngữ giải thích, có phần nhấn mạnh đến hoạt động giải thích pháp luật không chính thức; có định nghĩa tiếp cận giải thích pháp luật dưới góc độ chung, chú trọng nhiều đến tính phổ quát, tính logic học của giải thích pháp luật, bao gồm các hoạt động giải thích pháp luật chính thức và không chính thức. Tuy nhiên, dù tiếp cận dưới góc độ nào thì giải thích pháp luật cũng phải bao hàm các vấn đề sau: Tính thẩm quyền của hoạt động giải thích pháp luật.
Tính thẩm quyền là một đặc điểm tất yếu của hoạt động giải thích pháp luật bởi vì nó đem đến cho hoạt động giải thích pháp luật tính chính thức và giá trị ràng buộc đối với tất cả các bên dù họ có những giải thích khác nhau về cùng một quy phạm; Tính chất, phạm vi của giải thích pháp luật là một hoạt động độc lập, khác 6 biệt với hoạt động xây dựng pháp luật. Giải thích pháp luật là xác định những quy tắc xử sự, là đọc nghĩa của những quy phạm pháp luật đó; Đối tượng trực tiếp của giải thích pháp luật là quy phạm pháp luật hay một quy tắc xử sự nào đó. Đối tượng của giải thích pháp luật cũng có thể là tập quán pháp, tiền lệ pháp và cả chính sách pháp luật. Tuy nhiên, đối tượng chủ yếu của giải thích pháp luật vẫn là pháp luật thành văn mà hình thức phổ biến và cơ bản nhất là các văn bản quy phạm pháp luật; Mục đích của giải thích pháp luật.
Mục đích cao nhất và mang tính quyết định nhất của giải thích pháp luật là xác định đúng quy tắc xử sự mà nhà lập pháp đã thể hiện trong các quy định của pháp luật để giúp cho việc nhận thức, thực hiện pháp luật đúng đắn và thống nhất. Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về giải thích pháp luật như sau: Giải thích pháp luật được hiểu là việc làm sáng tỏ về tư tưởng, tinh thần, ý nghĩa và nội dung, mục đích của các quy phạm pháp luật, đảm bảo cho việc nhận thức và thực hiện đúng, thống nhất pháp luật. Làm sáng tỏ quy định pháp luật được coi là bước trước của giải thích pháp luật. Trước khi giải thích pháp luật nhà giải thích phải làm sáng rõ ý nghĩa, nội dung.
Trong quá trình giải thích pháp luật, các nhà giải thích pháp luật không được đặt thêm mới hay bổ sung các quy định pháp luật mà công việc của họ là giải thích ý nghĩa, nội dung của quy phạm pháp luật để hiểu, áp dụng cho đúng đắn, thống nhất chúng trong cuộc sống. Hình thức Giải thích pháp luật Có nhiều hình thức giải thích pháp luật dựa vào các tiêu chí khác nhau khi phân loại. Nếu căn cứ vào tiêu chí chủ thể giải thích pháp luật thì có giải thích pháp luật của Quốc hội, của cơ quan hành pháp, tòa án, của cơ quan và của các tổ chức, cá nhân khác. Căn cứ theo tiêu chí đối tượng của hoạt động giải thích, giải thích pháp luật có hai hình thức giải thích các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản áp dụng pháp luật, tập quán pháp luật, giải thích Hiến pháp, giải thích Luật, giải thích Pháp lênh… Căn cứ vào giá trị pháp lý, có thể chia thành hai hình thức giải thích pháp luật chính thức và giải thích pháp luật không chính thức.
7 Giải thích không chính thức không mang tính bắt buộc thực hiện đối với các chủ thể liên quan mà nó chỉ có giá trị tham khảo. Chủ thể của loại giải thích này bao gồm tất cả các chủ thể pháp luật như các cơ quan, tổ chức nghiên cứu khoa học. Sản phẩm của loại giải thích này là các ấn phẩm bình luận khoa học về các bộ luật hay các văn bản pháp luật. Chủ thể của giải thích pháp luật không chính thức trong đó có các nhà khoa học pháp lý, các luật gia, các Thẩm phán giàu kinh nghiệm có tác động quan trọng tới ý thức pháp luật của các chủ thể pháp luật, và thông qua đó, tới hoạt động thực tiễn và áp dụng pháp luật.
Chủ thể giải thích pháp luật chính thức là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo luật định, được tiến hành theo một trình tự, thủ tục pháp luật nhất định. Giải thích chính thức có hiệu lực pháp lý bắt buộc và được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước. Sản phẩm của giải thích pháp luật chính thức là các văn bản giải thích pháp luật. Trong giải thích pháp luật chính thức được chia thành hai loại: giải thích chính thức mang tính quy phạm và giải thích chính thức cho những vụ việc cụ thể (hay giải thích tình huống).
Giải thích chính thức mang tính quy phạm là giải thích pháp luật mà trong đó nội dung giải thích được thể hiện dưới dạng một văn bản quy phạm pháp luật, được thực hiện bởi cơ quan quyền lực nhà nước theo một trình tự độc lập trên cơ sở khái quát từ thực tế của hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật. Văn bản thể hiện nội dung giải thích có giá trị chính thức, bắt buộc đối với mọi cơ quan quyền lực nhà nước lập pháp, hành pháp, tư pháp… Giải thích tình huống là hoạt động giải thích gắn liền với việc giải quyết một vụ việc cụ thể; nội dung giải thích không mang tính quy phạm, chí có giá trị pháp lý đối với các chủ thể trong vụ việc được giải quyết mà không có giá trị đối với các chủ thể ở các vụ việc pháp lý khác; hoạt động này thường được tiến hành bới Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền khác tiến hành khi giải quyết một tranh chấp hoặc xét xử một vụ án cụ thể. Phương pháp giải thích pháp luật Phương pháp GTPL có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng và hiệu quả của việc giải thích pháp luật. Thông thường, để làm sáng tỏ một nội dung, tư tưởng và ý nghĩa của các quy định pháp luật, các phương pháp giải thích pháp luật thường được sử dụng bao gồm: 8 1.
Phương pháp giải thích ngôn ngữ, văn phạm Đây là phương pháp phổ biến, chủ yếu nhất và không thể thiếu được khi tiến hành hoạt động giải thích pháp luật. Với phương pháp này để làm sáng tỏ nội dung, tư tưởng của quy phạm pháp luật bằng cách làm rõ nghĩa từng từ, từng câu và xác định mối liên hệ ngữ pháp giữa chúng trong lời văn của quy phạm đó. Phương pháp này đặc biệt quan trọng và cần thiết khi tiến hành giải thích những văn bản pháp luật mà trong đó có nhiều câu chữ, ngôn từ chuyên môn được sử dụng lần đầu, còn mới lạ và không dễ nhận thức đối với những người không phải là luật gia hay nhà chuyên môn. Tuy nhiên, trong thực tiễn xây dựng pháp luật, ngôn ngữ, văn phạm không phải bao giờ cũng thể hiện được đầy đủ, chính xác, rõ ràng ý chí của Nhà nước dẫn đến các chủ thể thực hiện pháp luật có thể hiểu nhầm, hiểu sai, hiểu không đầy đủ…ý chí của nhà nước.
Ngôn ngữ không phải bao giờ cũng chuyển tải một cách chính xác, đầy đủ ý chí đích thực của Nhà nước nên chỉ sử dụng phương pháp giải thích ngôn ngữ, văn phạm để giải thích pháp luật là chưa đủ. Do vậy, nếu lời văn của quy phạm hay văn bản quy phạm không thể hiện được ý chí của Nhà nước mà chủ thể ban hành pháp luật cần thể hiện thì cần có sự giải thích trước bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền ngay sau khi văn bản được ban hành. Trong trường hợp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không giải thích trước chỉ đến khi thực hiện mới có xung đột về nhận thức và thực hiện các quy định pháp luật thì phải căn cứ vào lời văn đã được thể hiện trong văn bản để giải thích nếu nội dung quy định pháp luật cần được giải thích có liên quan đến lợi ích và quyền tự do dân chủ của nhân dân. Phương pháp giải thích logic Phương pháp giải thích logic là thông qua những phán đoán, suy luận, những quy luật của tư duy logic để làm sáng rõ nội dung quy phạm pháp luật.
Bằng suy đoán logic có thể cho phép người nhận thức đạt tới chân lý trong quá trình phân tích nội dung quy phạm pháp luật. Với tư duy logic còn giúp cho người soạn thảo các văn bản pháp luật tạo ra những điều luật vừa khái quát, rõ ràng, chính xác lại vừa dễ hiểu. Phương pháp này thường được sử dụng kết hợp với phương pháp giải thích ngôn ngữ và phương pháp giải thích hệ thống trong trường hợp lời văn của quy phạm hay văn bản pháp luật không trực tiếp thể hiện rõ ý chí của Nhà nước. Ở Việt Nam do tính thống nhất của hệ thống pháp luật chưa cao nên phương pháp này 9 thương chỉ được sử dụng để giải thích từng văn bản riêng biệt, ít được sử dụng để giải thích cho cả hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.