Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 1. Khái quát về vi phạm pháp luật và xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất đai 1. Hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý nhằm duy trì trật tự xã hội. Để thực hiện được chức năng đó, Nhà nước phải luôn điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng một hệ thống các quy tắc quản lý nhà nước được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật.
Trên thực tế, trong đời sống xã hội luôn xảy ra tình trạng vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước. Các vi phạm đó diễn ra hằng ngày trong đời sống xã hội, từ những vi phạm đơn giản như vất rác không đúng nơi quy định, gây mất trật tự nơi công cộng, đến những hành vi có tính nguy hiểm hơn như tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép, chuyển nhượng quyền sử dụng đất không đúng quy định, lấn, chiếm đất đai,… hoặc hành vi gây ô nhiễm môi trường, xây dựng trái phép, trốn thuế,. Những hành vi vi phạm rất đa dạng và “có mặt” trong tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước. Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội do PGS.
Hoàng Thị Kim Quế chủ biên; tại Chương XXIII phần do PGS. Lê Văn Cảm biên soạn có định nghĩa về vi phạm pháp luật như sau: “Vi phạm pháp luật là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến các lợi ích được bảo vệ bằng các ngành luật tương ứng hoặc trái với các quy định được quy định trong ngành luật ấy, do người có năng lực trách nhiệm pháp lý và đủ tuổi chịu trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách có lỗi” [2, tr. Theo khái niệm nêu trên, vi phạm pháp luật nói chung có đặc điểm sau đây: Thứ nhất, vi phạm pháp luật là hành vi khách quan xác định của con người (hành động hoặc không hành động). Theo phép biện chứng duy vật, mọi dự tính của 7 con người mới chỉ tồn tại dưới dạng ý thức mà chưa được thể hiện ra thế giới khách quan bằng hành động hoặc không hành động thì không được coi là vi phạm pháp luật.
Thứ hai, vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ. Một hành vi được coi là trái pháp luật khi nó không phù hợp với các quy định của pháp luật tại thời điểm xảy ra hành vi vi phạm, điều này được thể hiện thông qua các nội dung: Không thực hiện yêu cầu của pháp luật; hành động vượt quá giới hạn pháp luật cho phép và thực hiện những điều pháp luật cấm. Thông thường, một người không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình nếu hành vi đó chưa được pháp luật quy định. Việc dự báo, quy định trước của pháp luật vừa là cơ sở pháp lý để xác định tính trái pháp luật trong một hành vi cụ thể vừa là biện pháp răn đe, ngăn chặn, định hướng các hành vi trong xã hội.
Thứ ba, vi phạm pháp luật là hành vi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý. Một chủ thể được coi là có năng lực trách nhiệm pháp lý khi đối tượng đó có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, đồng thời đạt đến độ tuổi do pháp luật quy định, từ đó nhận thức được hành vi của mình đúng hay sai theo chuẩn mực xã hội. Hành vi do người không có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện dù có trái pháp luật cũng không phải là vi phạm pháp luật. Đối với mỗi lĩnh vực pháp luật khác nhau (hành chính, hình sự, dân sự) thì lại quy định năng lực, trách nhiệm pháp lý với các nhóm đối tượng khác nhau.
Thứ tư, vi phạm pháp luật là hành vi có lỗi của chủ thể. Trong khoa học pháp lý, lỗi là trạng thái tâm lý phản ánh thái độ tiêu cực của một người đối với hành vi trái pháp luật của họ và hậu quả của hành vi đó. Một hành vi dù trái pháp luật nhưng trong trường hợp chủ thể không có sự lựa chọn nào khác thì người đó không có lỗi (như trong trường hợp bất khả kháng, phòng vệ chính đáng) thì chủ thể đó được xem là không vi phạm pháp luật. 8 Việc quản lý và sử dụng đất phải được thực hiện theo quy định của pháp luật đất đai, tuy nhiên, trong quá trình thực thi công vụ, một bộ phận cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý đất đai đã có hành vi vi phạm pháp luật như: Vi phạm về việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; vi phạm trong quá trình lập hồ sơ về đất đai; vi phạm quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;… Ngoài ra, người sử dụng đất cũng có những hành vi vi phạm đất đai như: lấn, chiếm đất; tự ý chuyển mục đích sử dụng đất; chuyển nhượng đất không đúng quy định;… Trên cơ sở phân tích định nghĩa, đặc điểm của vi phạm pháp luật nói chung, có thể đưa ra khái niệm về vi phạm pháp luật đất đai như sau: Vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai là hành vi trái pháp luật đất đai, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ về đất đai (hoạt động quản lý đất đai, sử dụng đất đai) được pháp luật về đất đai bảo vệ.
Vi phạm pháp luật đất đai là một bộ phận của vi phạm pháp luật nói chung, do vậy, nó mang đầy đủ đặc điểm của vi phạm pháp luật. Vi phạm pháp luật về đất đai được thực hiện dưới các hành vi được pháp luật quy định là vi phạm và phải bị xử lý theo quy định. Dựa theo các tiêu chí khác nhau mà hành vi vi phạm pháp luật đất đai được chia thành nhiều loại khác nhau, như: - Căn cứ vào khách thể vi phạm, mức độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật về đất đai được chia thành các loại sau: Hành vi vi phạm hình sự (tội phạm); hành vi vi phạm hành chính; hành vi vi phạm dân sự; hành vi vi phạm kỷ luật. - Căn cứ vào nhóm quan hệ pháp luật về đất đai bị xâm phạm, vi phạm pháp luật đất đai được chia thành các loại sau: Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai và vi phạm các quy định về quản lý đất đai.
- Căn cứ vào chủ thể thực hiện hành vi vi phạm, vi phạm pháp luật đất đai được chia thành các loại sau: Vi phạm pháp luật do người có thẩm quyền quản lý đất đai thực hiện và vi phạm pháp luật do người sử dụng đất thực hiện. 9 Hành vi vi phạm pháp luật về đất đai rất phong phú, mỗi giai đoạn lịch sử, xã hội khác nhau pháp luật quy định các loại hành vi được coi là vi phạm pháp luật đất đai khác nhau. Theo quy định tại Điều 5 Luật Đất đai năm 1987, các hành vi bị nghiêm cấm khá đơn giản bao gồm: Việc mua, bán, lấn, chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức, nhận đất được giao mà không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, tự tiện sử dụng đất nông nghiệp, đất có rừng vào mục đích khác, làm hủy hoại đất đai [29, Điều 5]. Cũng về hành vi vi phạm pháp luật đất đai, Điều 6 Luật Đất đai năm 1993 quy định các hành vi bị nghiêm cấm: Nghiêm cấm việc lấn chiếm đất đai, chuyển quyền sử dụng đất trái phép, sử dụng đất không đúng mục đích được giao, hủy hoại đất [30, Điều 6].
Đến Luật Đất đai năm 2003, các hành vi nghiêm cấm đã được sửa đổi, bổ sung, theo đó, Luật Đất đai năm 2003 quy định các hành vi nghiêm cấm đối với người sử dụng đất như sau: Nghiêm cấm lấn, chiếm đất đai; không sử dụng đất, sử dụng đất không đúng mục đích; vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố; hủy hoại đất; không thực hiện đúng quy định của pháp luật khi thực hiện quyền của người sử dụng đất; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm của người sử dụng đất. Trong quá trình thi hành, Luật Đất đai năm 2003 đã bộc lộ nhiều nội dung không còn phù hợp, Luật Đất đai năm 2013 được ban hành quy định các hành vi sau đây bị nghiêm cấm: “1. Lấn, chiếm, hủy hoại đất đai. Vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố.
Không sử dụng đất, sử dụng đất không đúng mục đích. Không thực hiện đúng quy định của pháp luật khi thực hiện quyền của người sử dụng đất. Nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức đối với hộ gia đình, cá nhân theo quy định của Luật này. Sử dụng đất, thực hiện giao dịch về quyền sử dụng đất mà không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định về quản lý đất đai. Không cung cấp hoặc cung cấp thông tin về đất đai không chính xác theo quy định của pháp luật. Cản trở, gây khó khăn đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Trong 10 hành vi bị nghiêm cấm kể trên, chỉ có hành vi vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 12 là do người có thẩm quyền quản lý đất đai thực hiện, 09 hành vi còn lại đều có thể xác định chủ thể vi phạm là người sử dụng đất. Căn cứ trên quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản pháp luật có liên quan, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về hình sự, pháp luật về dân sự cũng quy định hành vi vi phạm pháp luật đất đai như sau: Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì hành vi vi phạm chỉ bị xử lý khi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính có quy định về hành vi đó.