LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực, đảm bảo độ chuẩn xác. Các số liệu, thông tin, tài liệu tham khảo trong luận văn có xuất xứ rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình. Tác giả luận văn Trần Văn Đông iii MỤC LỤC MỞ ĐẦU . NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN . Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân . Khái niệm, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp tư nhân . Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân . Nội dung của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân . Thành lập doanh nghiệp tư nhân . Những giới hạn đối với chủ doanh nghiệp tư nhân . Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân . Quản lý doanh nghiệp tư nhân . Cho thuê, bán, chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân . Chế độ thuế, kế toán đối với doanh nghiệp tư nhân . 26 Kết luận chương 1 . THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY . Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hiện nay . Quy định của pháp luật về thành lập doanh nghiệp tư nhân . Quy định của pháp luật về những giới hạn đối với chủ doanh nghiệp tư nhân . Quy định của pháp luật về vốn của doanh nghiệp tư nhân . Quy định của pháp luật về quản lý doanh nghiệp tư nhân . Quy định của pháp luật về cho thuê, bán, chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân . Quy định của pháp luật về chế độ thuế, kế toán đối với doanh nghiệp tư nhân . Thực tiễn thực hiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hiện nay . Những kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân và nguyên nhân . Những hạn chế trong thực hiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân và nguyên nhân . 56 Kết luận chương 2 . PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM . Phương hướng hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam . Giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam . Giải pháp hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam . Giải pháp thực hiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam . 81 Kết luận chương 3 .86 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.88 v DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLDS: Bộ luật dân sự DNTN: Doanh nghiệp tư nhân LDN: Luật doanh nghiệp KTTN: Kinh tế tư nhân XHCN: Xã hội chủ nghĩa vi DANH MỤC BẢNG Bảng 1. Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh theo loại hình doanh nghiệp . Đóng góp của doanh nghiệp tư nhân trong tổng kim ngạch xuất khẩu . 54 vii MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) là loại hình doanh nghiệp dân doanh, được hình thành từ khi Đảng và Nhà nước ta thực hiện đổi mới kinh tế, định hướng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), nhằm phát huy mọi tiềm năng của các cá nhân trong xã hội. Doanh nghiệp tư nhân ra đời và phát triển là minh chứng cho quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền tự do kinh doanh - một quyền kinh tế quan trọng của mọi người. Chủ trương Đổi mới đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta đối với sở hữu tư nhân và thành phần kinh tế tư nhân (KTTN) là trọng tâm, tạo ra động lực to lớn cho sự phát triển của nền kinh tế - xã hội nước ta (trong đó có DNTN). Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XII) đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 về phát triển KTTN trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; Nghị quyết đã nêu rõ quan điểm của Đảng về phát triển DNTN: “. có các cơ chế, chính sách khuyến khích thành lập DNTN; thúc đẩy liên kết theo chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp nhà nước và DNTN. Thể chế hóa đường lối của Đảng về quan tâm tạo cơ hội cho DNTN phát triển, Quốc hội Việt Nam khoá VIII đã thông qua đạo luật quan trọng là Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển DNTN, là cột mốc quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong quá trình đổi mới kinh tế, chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990: Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi có quyền thành lập DNTN (Điều 1); Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của DNTN, thừa nhận sự bình đẳng trước pháp luật của DNTN với các doanh nghiệp khác và tính sinh lợi hợp pháp của việc kinh 1 doanh. Trong khuôn khổ pháp luật, chủ DNTN có quyền tự do kinh doanh và chủ động trong mọi hoạt động kinh doanh (Điều 3). Đến năm 1999, Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 được hợp nhất với Luật Công ty năm 1990, đổi tên thành Luật Doanh nghiệp, được sửa đổi, bổ sung trong Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Doanh nghiệp năm 2020. Từ cơ sở chính trị, pháp lý nêu trên, các DNTN ở Việt Nam ngày càng được quan tâm tạo cơ hội để phát triển. Theo số liệu thống kê của Bộ Tài chính, đến cuối năm 2017, Việt Nam có khoảng 600 nghìn doanh nghiệp, trong đó có trên 500 nghìn DNTN [32]. Thực tiễn từ năm 2005 cho đến nay, trên cơ sở sự hình thành khung pháp lý nhằm công nhận và bảo đảm sự tồn tại của các loại hình doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN, DNTN đã và đang khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế. Theo dự báo, KTTN Việt Nam trong đó có DNTN trong nước dự kiến sẽ đạt mức đóng góp cho GDP Việt Nam mỗi năm đạt 50% vào năm 2020 hay 55% vào năm 2025 và 60% đến 65% vào năm 2030 [34]. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Hội nghị Thủ tướng với doanh nghiệp năm 2019, Việt Nam có khoảng 17.000 DNTN quy mô lớn và 21.000 DNTN quy mô vừa [35]. Tuy nhiên, hiện nay các DNTN của Việt Nam chưa phát huy được hết tiềm năng của mình, còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Trên thực tế, những năm qua, DNTN vẫn gặp nhiều rào cản gia nhập thị trường, khó tiếp cận vốn ngân hàng và gặp nhiều khó khăn liên quan đến các thủ tục thuế và hải quan và những thách thức về quản trị doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực, chi phí lương và bảo hiểm ngày càng cao, chi phí logistics lớn. Do đó, DNTN đóng góp cho GDP chỉ chiếm hơn 10% trong tỷ lệ đóng góp cho GDP của khối kinh tế tư nhân. 2 Hạn chế này một phần là do các DNTN chưa có kinh nghiệm hoạt động trong nền kinh tế thị trường. Mặt khác, chưa có khung chính sách thật rõ ràng và ổn định từ phía Nhà nước nhằm đưa ra các biện pháp hữu hiệu tạo điều kiện cho các DNTN phát huy hết khả năng cho sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Dù đã có nhiều thành tựu, nhưng những nỗ lực cải cách thể chế cho đến nay vẫn đang loay hoay ở việc cởi trói, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, chứ chưa tạo được nhiều điều kiện thuận lợi để hỗ trợ khu vực tư nhân trong đó có DNTN phát triển. Hệ thống luật pháp về doanh nghiệp nói chung trong đó có DNTN và môi trường kinh doanh như Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật về Môi trường, Luật Đầu tư công,… còn có nhiều điểm bất hợp lý, thiếu nhất quán và chồng chéo. Từ đó cho thấy cần phải nghiên cứu thấu đáo vấn đề pháp luật về DNTN ở Việt Nam hiện nay để đánh giá khách quan, khoa học những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và giải pháp phát huy ưu điểm, hạn chế của pháp luật về DNTN, tạo môi trường pháp luật thuận lợi cho DNTN phát triển để đóng góp tích cực cho sự vận hành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Từ những lý do trên, học viên chọn đề tài “Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hiện nay”để nghiên cứu trong phạm vi luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật kinh tế. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Pháp luật về doanh nghiệp nói chung và DNTN nói riêng không phải là một nội dung mới mẻ ở Việt nam. Hiện nay, đã có khá nhiều đề tài cũng như các bài nghiên cứu pháp lý, các bài báo bàn về vấn đề này ở góc độ vĩ mô hoặc nghiên cứu chuyên sâu về từng loại hình doanh nghiệp như công ty cổ phần, công ty TNHH 2 thành viên, doanh nghiệp tư nhân…Theo đó, các nhà nghiên cứu tiếp cận địa vị pháp lý của doanh nghiệp ở khá nhiều góc độ như nội dung về chế độ pháp lý về thành lập, giải thể và phá sản doanh nghiệp; Một số giải 3 pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập; Quy chế pháp lý về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay… Đến nay, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến pháp luật về DNTN trên các bình diện khác nhau. Điển hình là một số công trình nghiên cứu khoa học sau đây: - Bài viết “Vài bình luận về pháp luật về doanh nghiệp tư nhân” của TS Ngô Huy Cương đăng trên Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Tạp chí Luật học số 26 năm 2010.
Tổng quan nghiên cứu
Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) là một thành phần quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Việt Nam. Theo số liệu của Bộ Tài chính, đến cuối năm 2017, Việt Nam có khoảng 600 nghìn doanh nghiệp, trong đó trên 500 nghìn là DNTN. Khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm DNTN, dự kiến đóng góp khoảng 50% GDP vào năm 2020, tăng lên 55% vào năm 2025 và đạt 60-65% vào năm 2030. Tuy nhiên, DNTN hiện chỉ đóng góp hơn 10% vào GDP của khối kinh tế tư nhân do còn nhiều khó khăn như rào cản gia nhập thị trường, hạn chế tiếp cận vốn ngân hàng, thủ tục thuế và hải quan phức tạp, cùng các thách thức về quản trị doanh nghiệp và chi phí hoạt động cao.
Luận văn tập trung nghiên cứu pháp luật về DNTN tại Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 7 năm 2015 đến tháng 6 năm 2020, nhằm làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy sự phát triển bền vững của DNTN. Nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo dựng môi trường pháp lý thuận lợi, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và vai trò của DNTN trong nền kinh tế quốc dân.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn dựa trên các lý thuyết và mô hình pháp luật kinh tế, bao gồm:
- Lý thuyết về doanh nghiệp tư nhân: DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động kinh doanh. Khái niệm này được quy định rõ trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 và 2020.
- Lý thuyết về trách nhiệm vô hạn: Chủ DNTN chịu trách nhiệm vô hạn, không giới hạn tài sản cá nhân để đảm bảo các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp.
- Mô hình pháp luật điều chỉnh quan hệ kinh tế: Pháp luật về DNTN điều chỉnh các quan hệ quản lý nhà nước, quan hệ kinh tế giữa các chủ thể bình đẳng và quan hệ nội bộ doanh nghiệp.
- Khái niệm pháp luật về DNTN: Hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thành lập, hoạt động và chấm dứt tư cách chủ thể của DNTN.
Các khái niệm chính bao gồm: doanh nghiệp tư nhân, trách nhiệm vô hạn, pháp luật kinh tế, quản lý doanh nghiệp, và chuyển đổi doanh nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý:
- Phân tích, tổng hợp: Đánh giá các quy định pháp luật, tổng hợp số liệu từ các báo cáo của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, và các công trình nghiên cứu liên quan.
- Lịch sử: Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển pháp luật về DNTN tại Việt Nam.
- So sánh: Đối chiếu các quy định trong Luật Doanh nghiệp 2014 với các luật trước đó và các văn bản pháp luật liên quan.
- Thống kê: Thu thập và phân tích số liệu về số lượng DNTN, quy mô, đóng góp vào GDP và các chỉ số kinh tế khác.
- Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Xem xét khách quan quá trình phát triển pháp luật về DNTN trong bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam.
Nguồn dữ liệu chính bao gồm các văn bản pháp luật hiện hành, báo cáo thống kê của các cơ quan nhà nước, và các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố. Cỡ mẫu nghiên cứu là toàn bộ các quy định pháp luật và số liệu thống kê liên quan đến DNTN trong giai đoạn 2015-2020. Phân tích được thực hiện theo timeline từ năm 2015 đến 2020 nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phù hợp.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
-
Quy định pháp luật về thành lập DNTN ngày càng thông thoáng: Luật Doanh nghiệp 2014 và 2020 cho phép cá nhân Việt Nam và người nước ngoài đủ điều kiện được thành lập DNTN, với thủ tục đăng ký kinh doanh thay vì xin giấy phép. Mỗi cá nhân chỉ được thành lập một DNTN, không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh hoặc thành viên công ty hợp danh.
- Số liệu: Khoảng 600 nghìn doanh nghiệp, trong đó trên 500 nghìn là DNTN (Bộ Tài chính, 2017).
-
Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ DNTN tạo ra cả ưu điểm và hạn chế: Chủ DNTN chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản cá nhân, giúp tăng khả năng huy động vốn và tạo niềm tin với đối tác, nhưng cũng làm tăng rủi ro phá sản cá nhân.
- Ví dụ: Một DNTN với vốn điều lệ 3 triệu đồng nhưng nợ 10 triệu đồng, chủ doanh nghiệp phải dùng tài sản cá nhân để trả nợ.
-
Pháp luật quy định rõ quyền và nghĩa vụ của chủ DNTN trong quản lý và chuyển đổi doanh nghiệp: Chủ DNTN có toàn quyền quyết định hoạt động kinh doanh, có thể thuê người quản lý nhưng vẫn chịu trách nhiệm vô hạn. DNTN có thể chuyển đổi thành công ty TNHH hoặc công ty cổ phần nếu đáp ứng điều kiện.
- Số liệu: Khoảng 17.000 DNTN quy mô lớn và 21.000 DNTN quy mô vừa (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2019).
-
Thực trạng pháp luật còn tồn tại hạn chế về sự ổn định và đồng bộ: Hệ thống pháp luật về DNTN còn chồng chéo, thiếu nhất quán với các luật khác như Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Môi trường, gây khó khăn cho DNTN trong hoạt động kinh doanh.
- So sánh: Luật Doanh nghiệp 2014 và 2020 có nhiều điểm cải tiến nhưng vẫn chưa giải quyết triệt để các rào cản pháp lý.
Thảo luận kết quả
Pháp luật về DNTN đã có những bước tiến quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho thành lập và hoạt động của DNTN, thể hiện qua việc chuyển từ giấy phép sang đăng ký kinh doanh, mở rộng đối tượng thành lập và quy định rõ quyền hạn của chủ doanh nghiệp. Tuy nhiên, chế độ trách nhiệm vô hạn vẫn là rào cản lớn khiến nhiều cá nhân e ngại đầu tư vào DNTN, nhất là trong các lĩnh vực rủi ro cao.
So với các nghiên cứu trước đây, luận văn làm rõ hơn về mối quan hệ giữa pháp luật và thực tiễn hoạt động của DNTN trong giai đoạn 2015-2020, đồng thời phân tích sâu về các quy định mới trong Luật Doanh nghiệp 2020. Việc pháp luật chưa đồng bộ và còn chồng chéo với các luật chuyên ngành khác làm giảm hiệu quả thực thi, gây khó khăn cho DNTN trong tiếp cận nguồn lực và mở rộng thị trường.
Dữ liệu có thể được trình bày qua biểu đồ thể hiện số lượng DNTN theo quy mô, tỷ lệ đóng góp vào GDP qua các năm, và bảng so sánh các quy định pháp luật về thành lập, quản lý và chuyển đổi DNTN giữa các thời kỳ luật.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Hoàn thiện khung pháp lý về DNTN: Rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật liên quan để đảm bảo tính đồng bộ, nhất quán giữa Luật Doanh nghiệp với các luật chuyên ngành như Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Thuế. Mục tiêu giảm thiểu chồng chéo, tạo môi trường pháp lý minh bạch, ổn định cho DNTN phát triển. Thời gian thực hiện: 2 năm. Chủ thể: Bộ Tư pháp phối hợp Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
-
Xây dựng chính sách hỗ trợ tiếp cận vốn cho DNTN: Thiết lập các chương trình tín dụng ưu đãi, quỹ bảo lãnh tín dụng dành riêng cho DNTN, giúp giảm rào cản về vốn. Mục tiêu tăng tỷ lệ DNTN tiếp cận vốn ngân hàng lên 30% trong 3 năm. Chủ thể: Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính.
-
Đào tạo nâng cao năng lực quản trị cho chủ DNTN: Tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn về quản trị doanh nghiệp, kỹ năng kinh doanh, pháp luật cho chủ DNTN nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và giảm thiểu rủi ro. Mục tiêu đào tạo 10.000 chủ DNTN trong 5 năm. Chủ thể: Bộ Khoa học và Công nghệ, các trường đại học, viện nghiên cứu.
-
Đơn giản hóa thủ tục hành chính và cải cách thuế: Rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính liên quan đến đăng ký kinh doanh, thuế, hải quan cho DNTN; áp dụng chính sách thuế ưu đãi cho DNTN quy mô nhỏ và vừa. Mục tiêu giảm thời gian đăng ký kinh doanh xuống dưới 3 ngày làm việc. Chủ thể: Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Chủ doanh nghiệp tư nhân và nhà đầu tư cá nhân: Nắm rõ quyền lợi, nghĩa vụ và các quy định pháp luật để quản lý doanh nghiệp hiệu quả, giảm thiểu rủi ro tài chính và pháp lý.
-
Cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế và doanh nghiệp: Sử dụng luận văn làm cơ sở khoa học để xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật và cải cách thủ tục hành chính liên quan đến DNTN.
-
Học viên, nghiên cứu sinh ngành Luật Kinh tế và Quản trị kinh doanh: Tài liệu tham khảo quan trọng để hiểu sâu về pháp luật doanh nghiệp tư nhân và thực trạng áp dụng tại Việt Nam.
-
Tổ chức tài chính, ngân hàng và các quỹ đầu tư: Hiểu rõ đặc điểm pháp lý và rủi ro của DNTN để thiết kế sản phẩm tài chính phù hợp, hỗ trợ phát triển khu vực kinh tế tư nhân.
Câu hỏi thường gặp
-
DNTN có tư cách pháp nhân không?
DNTN không có tư cách pháp nhân vì tài sản của doanh nghiệp không tách bạch với tài sản của chủ doanh nghiệp. Chủ DNTN chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản cá nhân. -
Mỗi cá nhân có thể thành lập bao nhiêu DNTN?
Theo quy định, mỗi cá nhân chỉ được thành lập một DNTN để đảm bảo trách nhiệm vô hạn và bảo vệ quyền lợi của khách hàng, đối tác. -
Chủ DNTN có thể thuê người quản lý doanh nghiệp không?
Có, chủ DNTN có thể thuê người khác làm giám đốc quản lý doanh nghiệp nhưng vẫn chịu trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động của doanh nghiệp. -
DNTN có thể chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp khác không?
DNTN có thể chuyển đổi thành công ty TNHH hoặc công ty cổ phần nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 và 2020. -
Chế độ thuế áp dụng cho DNTN như thế nào?
DNTN chịu các loại thuế như lệ phí môn bài, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và các loại thuế đặc thù tùy ngành nghề kinh doanh.
Kết luận
- DNTN là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản cá nhân, không có tư cách pháp nhân.
- Pháp luật về DNTN tại Việt Nam đã có nhiều cải tiến, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho thành lập và hoạt động của DNTN, nhưng vẫn còn tồn tại hạn chế về sự đồng bộ và ổn định.
- DNTN đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, góp phần huy động nguồn lực xã hội, tạo việc làm và đóng góp ngân sách nhà nước.
- Các giải pháp hoàn thiện pháp luật, hỗ trợ tiếp cận vốn, nâng cao năng lực quản trị và cải cách thủ tục hành chính là cần thiết để phát huy tiềm năng của DNTN.
- Tiếp tục nghiên cứu và theo dõi thực tiễn áp dụng pháp luật về DNTN trong giai đoạn tới nhằm điều chỉnh chính sách phù hợp, thúc đẩy phát triển bền vững khu vực kinh tế tư nhân.
Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu nên phối hợp triển khai các đề xuất nhằm hoàn thiện khung pháp lý và hỗ trợ thực tiễn cho DNTN, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN tại Việt Nam.