Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp tư nhân 1. Khái niệm doanh nghiệp tư nhân Ở Việt Nam, sự tồn tại và phát triển của khu vực KTTN trong đó có DNTN mới được pháp luật chính thức thừa nhận từ năm 1990, khi Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty được thông qua.
Cũng từ đó, thuật ngữ “Doanh nghiệp tư nhân” được sử dụng và biết đến ngày càng nhiều. Tuy nhiên, cho đến nay, trong thực tế vẫn có những trường hợp hiểu nhầm về nội hàm của khái niệm này. Phổ biến nhất là tình trạng sử dụng thuật ngữ “Doanh nghiệp tư nhân” để chỉ một (hoặc các) doanh nghiệp “thuộc thành phần KTTN”. Và như vậy, những người nhầm lẫn đã dùng thuật ngữ “Doanh nghiệp tư nhân” như là một đối trọng để phân biệt với “Doanh nghiệp Nhà nước” - doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhà nước.
Dùng thuật ngữ “Doanh nghiệp tư nhân” như là cách gọi vắn tắt của “Doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN” là không chính xác. Chúng ta nên sử dụng một thuật ngữ khác phù hợp hơn để chỉ những doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN, đó là “Doanh nghiệp dân doanh”, vì thực ra, từ qui định ở Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990: “DNTN là đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn vốn pháp định, do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”; cho đến quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Luật Doanh nghiệp năm 2005 DNTN luôn được coi là một trong những hình thức đặc trưng về tổ chức kinh doanh mà cá nhân muốn đầu tư có thể lựa chọn. Về bản chất, DNTN được pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam qui định tương tự như Doanh nghiệp cá nhân 9 (Sole Proprietorship) ở các nước khác [21]. Và như vậy, DNTN chỉ là một loại hình doanh nghiệp đặc thù thuộc thành phần KTTN.
Theo Khoản 1 Điều 141 Luật Doanh nghiệp năm 2005 “DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”. Đây là một khái niệm ngắn gọn giúp chúng ta phân biệt DNTN với các hình thức tổ chức kinh doanh khác. Các yếu tố cơ bản tạo nên khái niệm này và cũng là những đặc điểm quan trọng nhất, đó là “loại hình”, “chủ sở hữu” và “chế độ trách nhiệm”. Đến Luật Doanh nghiệp năm 2014, tại Điều 183, Luật Doanh nghiệp năm 2020 tiếp tục tái khẳng định quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005: “DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”.
Từ phân tích trên, cho thấy khái niệm DNTN được thừa nhận, ghi nhận trong pháp luật Việt Nam là: DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân Thứ nhất, Doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập và làm chủ: Doanh nghiệp tư nhân không xuất hiện sự góp vốn giống như ở các công ty nhiều chủ sở hữu, nguồn vốn của DN cũng chủ yếu xuất phát từ tài sản của một cá nhân duy nhất. Về quan hệ sở hữu vốn trong DNTN: Nguồn vốn ban đầu của DNTN xuất phát từ tài sản của chủ doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư, chỉ phải khai báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh trong trường hợp giảm vốn xuống dưới mức đã đăng kí.
Vì vậy, không có giới hạn nào giữa phần vốn và tài sản đưa vào kinh doanh của DNTN và phần còn lại thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là không thể tách bạch tài sản của chủ DNTN và tài sản của chính DNTN đó. 10 Thứ hai, về quan hệ sở hữu quyết định quan hệ quản lý trong DNTN: Doanh nghiệp tư nhân chỉ có một chủ đầu tư duy nhất, vì vậy cá nhân có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của DNTN. Chủ DNTN là người đại diện theo pháp luật của DNTN.
Thứ ba, về phân phối lợi nhuận trong DNTN: Vấn đề phân chia lợi nhuận không đặt ra đối với DNTN bởi DNTN chỉ có một chủ sở hữu và toàn bộ lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp sẽ thuộc về một mình chủ doanh nghiệp. Tuy nhiên điều đó cũng có nghĩa là cá nhân duy nhất đó sẽ có nghĩa vụ chịu mọi rủi ro trong kinh doanh. Thứ tư, DNTN không có tư cách pháp nhân: Một pháp nhân phải có tài sản riêng, tức phải có sự tách bạch giữa tài sản của pháp nhân đó với những người tạo ra pháp nhân. DNTN không có sự độc lập về tài sản vì tài sản của DNTN không độc lập trong quan hệ với tài sản của chủ DNTN.
Căn cứ theo Điều 74 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 thì một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ 04 điều kiện sau đây: Một là, được thành lập hợp pháp; Hai là, phải có cơ quan điều hành; Ba là, có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác; Bốn là, tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của pháp nhân và nhân danh mình tham gia vào các quan hệ một các độc lập. Đối với trường hợp DNTN: Căn cứu về điều kiện “được thành lập theo quy định của pháp luật”: DNTN được cá nhân thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp. Căn cứ về điều kiện cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức của DNTN được thực hiện theo quy định của Điều 185 Luật doanh nghiệp năm 2014: Chủ DNTN có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Căn cứ về tính độc lập của tài sản và trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ: Theo quy định tại Điều 81 Bộ luật dân sự 2015, tài sản của pháp nhân bao gồm vốn góp của chủ sở hữu, sáng lập viên, thành viên của pháp nhân và tài sản khác mà pháp nhân được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này, 11 luật khác có liên quan.
Tuy nhiên, theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2014: Vốn đầu tư của chủ DNTN do chủ DNTN tự đăng ký. Tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của chủ DNTN không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động, chủ DNTN có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. chủ DNTN phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Như vậy, ở tiêu chí này, tài sản của DNTN và chủ DNTN không có tính độc lập rõ ràng do không có ranh giới. Chủ DNTN có thể tăng hoặc giảm số vốn đầu tư bất cứ lúc nào. Đồng nghĩa vốn đầu tư của DNTN cũng có thể được chủ DNTN sử dụng như tài sản cá nhân. Về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ, chủ DNTN phải chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ của DNTN bằng toàn bộ tài sản của mình chứ không dừng lại ở số vốn đăng ký đầu tư của chủ DNTN.
Căn cứ về điều kiện “Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập”: Trong quan hệ tố tụng, DNTN không được nhân danh mình để tham gia với tư cách độc lập mà tư cách tham gia là của chủ DNTN. Cụ thể, khoản 3 Điều 185 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định: chủ DNTN là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Tòa án trong các tranh chấp liên quan đến DNTN. Như vậy, từ việc xét các điều kiện của pháp nhân được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015, có thể kết luận: DNTN không có tư cách pháp nhân vì: Tài sản của DNTN không có tính độc lập với cá nhân chủ sở hữu DNTN; chủ DNTN tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp chứ không phải DNTN. Thứ năm, chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn trước mọi khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động: Do tính chất độc lập về tài sản không có nên chủ DNTN - người chịu trách nhiệm duy nhất trước mọi rủi ro 12 của Doanh nghiệp sẽ phải chịu chế độ trách nhiệm vô hạn.
Chủ DNTN không chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp trong phạm vi phần vốn đầu tư đã đăng kí mà phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản trong trường hợp phần vốn đầu tư đã đăng kí không đủ. Có thể khái quát đặc điểm của DNTN được thể hiện trong 04 nguyên tắc hoạt động của DNTN là “bốn tự” gồm: i) Tự bỏ vốn; ii) Tự tổ chứ; iii) Tự chủ trong kinh doanh; iv) Tự bù lỗ. Đây là cơ chế gắn kết hoạt động (lợi ích) với năng lực hoạt động của người lao động, một cơ chế hoạt động tối ưu hướng tới kết quả cao trong hoạt động của DNTN mà các loại hình doanh nghiệp khác không có. Từ đặc điểm của DNTN cho thấy DNTN có những nét tương đồng và những nét khác biệt với Hộ kinh doanh và Công ty TNHH một thành viên.
Một là, so sánh giữa DNTN với Hộ kinh doanh: Theo quy định của pháp luật thì giữa mô hình Hộ kinh doanh và DNTN có những đặc điểm giống nhau như sau: i) Cả hai hình thức này đều là do cá nhân làm chủ, đều tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của đơn vị mình bằng toàn bộ tài sản của mình. Chủ thể thành lập phải là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật; ii) Pháp luật quy định cả hai đều không được phép phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa hộ kinh doanh và DNTN: Về chủ thể thành lập của DNTN và hộ kinh doanh có những điểm khác biệt sau đây: Đối với DNTN chỉ duy nhất do một cá nhân thành lập và cá nhân đó phải chịu mọi trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của chính mình. Trong khi đó, đối với Hộ kinh doanh, do tính chất của Hộ kinh doanh có thể do một cá nhân thành lập hoặc có thể là một nhóm, một hộ gia đình cùng thành lập.