Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo và thực tiễn về công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo trên dia bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bản huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. 13 CHUONG I CƠ SỞ LÝ LUAN VE CONG TAC QUAN LY NHA NUOC VE GIAM NGHEO VA THYC TIEN VE CONG TAC QUAN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO.1, KHAL QUAT VE GIAM NGHEO VA QUAN LY NHA NUOC VE GIAM NGHEO 1. Khái niệm gi «a.
Khái niệm nghèo “Tháng 6/2008, tuyên bố của Liên hợp quốc được lãnh đạo của tất cả các tổ chức trong Liên hiệp quốc (UN) thông qua đã nêu: “Nghẻo là thiếu năng. lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghéo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đại để tring trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiắp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa sự không an toàn, không có quyển, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng.
nghĩa đễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn "[35]. Tại Hội nghị chống nghèo đói do Ủy ban Kinh tế - Xã hội Khu vực Châu. A- Thai Binh Duong tổ chức tại BangKok tháng 9/1993, các nước trong khu vực thống nhất rằng “Aghẻo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả. năng thỏa mãn những như cầu cơ bản của con người mà nhú cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận ”.
Theo khái niệm này thi tiêu chí và chuẩn mực đánh giá về nghèo đói còn để ngỏ về định lượng hay nói cách khóc tiêu chuẩn về đánh giá nghèo đôi ở các quốc gia và các ving lãnh thổ là khác nhau” Đến năm 1995, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển xã hội tổ 14 chức tại Copenhagen (Đan Mạch) đã đưa ra khái niệm:” Agưởi nghèo là đắt cá những ai mà thu nhập thấp hơn dưới ! đô la Mỹ (USD) môï ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua với những sản phẩm thiết yêu dé ton tai”. Khác với khái niệm trên, khái niệm này đã có tính định lượng nhưng không, tính đến sự thay đối về thời gian của vấn đề nghèo và cũng chỉ mới đề cập. Sau nhiều năm thực hiện cuộc chiến chống đói nghèo, trong “ Báo cáo. về tình hình phát triển thế giới 2000-2001 — Tắn công nghèo đói”, Ngân hàng.
Thế giới đã thừa nhận quan điểm: “ Nghèo không chỉ là mức thư nhập và tiêu dùng thấp mà còn bao gồm mức độ hưởng thụ thấp về giáo dục, y tế, dinh cưỡng và các lĩnh vực khác của sự phát triển con người” [36]. Quan diém nay đã có cách nhìn toàn diện hơn về vấn đề nghèo, đó là nghèo đa chiều. Tir nim 2007, Alkire và Foster đã bắt đầu nghiên cứu về một cách thức .đo lường mới về nghèo, đơn giản nhưng vẫn đáp ứng tính da chiều của nghèo. “Cách thức đo lường này đã được UNDP sử dụng để tính toán chỉ số nghèo đa chiéu (MPI) lan đầu tiên được giới thiệu tỏng báo cáo phát triển con người năm 2010 và được đề xuất áp dụng thống nhất trên thể giới sau năm 2015 đẻ theo dõi, đánh giá nghèo.
Chỉ tổng hợp này được tính toán dựa trên 3 cÍ nghèo Y , Giáo dục và Điều kiện phúc lợi. Chuẩn nghèo được xác định bằng 1/3 tổng số thiểu hụt. Mặc dù các khái niệm được đưa ra có một số điểm khác biệt nhưng có thể thấy các quốc gia, các nhà cl trị và các học giả đều thống nhất rằng nghèo là một hiện tượng đa chiều, tỉnh trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụUkhông được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Nhu vậy, nghèo đa chiều có thể được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
' Việt Nam khái niệm đói nghèo được định nghĩa như sau: 15 'Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp, hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Trong hoàn cảnh. nghèo thì người nghèo và hộ nghèo cũng chỉ vật lộn với những mưu sinh hàng, ngày và kinh tế vật chat, biểu hiện trực tiếp nhất ở bữa ăn. Họ không thể vươn tới các nhu cầu về văn hóa, tỉnh thần hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm.
bớt tới mức tối thiểu gần nhất, gần như không có. Một cách hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo. Nhưng ngường nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thé hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia. Nghèo được chia thành các mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cẩu tối thiểu.
~ Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo. không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi lại. ~ Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét. ~ Nghèo có nhu câu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư có.
những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu. Ở Việt Nam, thời gian qua chuẩn nghỏo, tỷ lệ nghèo và xác định đối tượng nghèo hoàn toàn dựa vào các tiêu chỉ thu nhập, trong đó chuẩn nghèo được xác định theo phương pháp “chi phí cho các nhu cầu cơ bản”. cơ bản là chỉ cho nhu cầu tối thiểu về lương thực và chỉ cho phi lương thực thiết thiết yếu (giáo dục, y tế, nha 6. Giống như quá phat tri 1, nghèo đói là một khái niệm đa chiều.
16 Trong cùng một thời điểm, người nghèo có thể phải đối mặt với nhiều bắt lợi khác nhau, có thể là những khó khăn trong khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, đất đai, nước sạch hoặc điện thấp sáng. Sử dụng một tiêu chí thu nhập (hay. chỉ tiêu) không đủ để nắm bắt được tình trạng nghèo thực tế của người dân. Đánh giá nghèo cần được tiếp cận rộng hơn từ chiều cạnh phát triển toàn diện con người.
Sau 30 năm đổi mới, phát triển và hội nhập, Việt Nam đã chuyển. từ một quốc gia thu nhập thấp sang nhóm nước có thu nhập trung bình nên cách cân đánh giá nghèo đơn chiều theo thu nhập đã bộc lộ những hạn. Đã đến lúc xem xét, đánh giá nghèo theo nhiều góc độ từ góc độ nghèo. vật chất, nghèo về con người và nghèo về xã hội Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập ở Việt Nam từ năm 2013 nhằm.
hướng t việc dựng lên một bức tranh đầy đủ và toàn điện hơn về thực trạng, nghèo ở nước ta. Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Nghị quyết s 76/ 2014/QH13 về việc đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, trong đó nêu rõ: *Xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và đáp ứng các dịch vụ xã hội cơ bản”. Quyết định số 2324/ QD-TTg ngày 19/12/2014 của Thủ. tướng Chính phủ ban hành kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết số 76/ 2014/ QH13 của Quốc Hội đã xác định rỡ nhiệm vụ xây dựng, nghiên cứu xây dựng đề án tổng thể về đổi mới phương pháp tiếp cận nghèo ở Việt Nam từ đơn chiều sang đa chiều, trình Chính phủ xem xét vào cuối năm 2015.[33] Ngày 15/9/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ký kết quyết định số 1614/ QD ~ TTg phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020”.
“Chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020 của Việt Nam được xây dựng theo hướng sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiéu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo được xây dựng trên cơ sở: 7 ~ Các tiêu chí về thu nhập. ~ Mức độ thiểu hụt trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin. Nghèo thay đổi theo thời gian, kinh tế cảng phát triển thì nhu cầu cơ bản của con người cũng có xu hướng tăng lên ngày một cao hơn; nghèo cũng thay đổi theo không gian, theo khái niệm trên cũng chỉ cho chúng ta thấy rằng sẽ không có chuẩn nghèo chung cho tắt cả các nước, vì nó phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia và từng vùng, xu hướng chung là các nước càng phát triển thì ngưỡng đói nghèo cảng cao hơn.
"Đôi nghèo là một khái niệm động, phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội, lịch sử, mức độ tăng trưởng kinh tế và nhu cầu phát triển của con người Ỡ một thời điểm, một vùng, một quốc gia là đói nghèo nhưng một thời điểm khác, vùng khác, một quốc gia khác thì chỉ số đó mắt ý nghĩa. Do đó, rất khó quy định hợp lý một chuẩn mực chung về đói nghèo cho tắt cả mọi quốc gia, ngay trong một quốc gia cũng có thể khác nhau giữa các vùng, giữa các thời kỳ. Khái niệm giảm nghèo. Giảm nghèo là tổng thể các biện pháp, chính sách của Nhà nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo, nhằm tạo điều kiện để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trang thu nhập không đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định theo từng địa phương, khu vực và quốc gia 1.
Khái niệm quản lý nhà nước về giảm nghèo .Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý nhưng nhìn chung có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một cách gián tiếp hoặc trực tiếp nhằm đạt dược những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến đổi của môi trường.