Luận văn thạc sĩ: Quản lý nhà nước về giảm nghèo tại huyện Núi Thành

Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển phân tích công tác giảm nghèo tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Kinh Tế Phát Triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn
112
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo Núi Thành

Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển về quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam cung cấp một bức tranh toàn diện về những nỗ lực, thách thức và định hướng tương lai. Huyện Núi Thành, với đặc điểm địa hình phức tạp, kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và thủy sản, luôn xem công tác giảm nghèo là nhiệm vụ trọng tâm. Nghiên cứu tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích sâu thực trạng giai đoạn 2012-2017 và đề xuất các giải pháp khả thi. Hiệu quả quản lý nhà nước được xem là yếu tố then chốt, quyết định sự thành công của các chính sách giảm nghèo. Thông qua việc áp dụng chuẩn nghèo đa chiều, công tác quản lý không chỉ tập trung vào thu nhập mà còn hướng đến cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, từ đó thúc đẩy xóa đói giảm nghèo bền vững. Việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng như điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, và cơ chế chính sách đã làm rõ những nền tảng quan trọng để xây dựng các giải pháp phù hợp, giúp địa phương khai thác tiềm năng và vượt qua khó khăn, hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế đi đôi với đảm bảo an sinh xã hội.

1.1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước trong giảm nghèo

Quản lý nhà nước về giảm nghèo được định nghĩa là hoạt động có ý thức của nhà nước, sử dụng các công cụ như pháp luật, chính sách, và bộ máy tổ chức để tác động lên người nghèo nhằm mục tiêu đảm bảo công bằng và an sinh xã hội. Hoạt động này vừa mang tính chấp hành (thực thi luật pháp, nghị quyết) vừa mang tính điều hành (tổ chức, chỉ đạo trực tiếp). Nội dung cốt lõi của quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo bao gồm bốn mảng chính: (1) Xây dựng chương trình, kế hoạch giảm nghèo phù hợp thực tiễn; (2) Tổ chức triển khai, tuyên truyền các chính sách giảm nghèo; (3) Hoàn thiện bộ máy, nguồn nhân lực; và (4) Tăng cường công tác thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm. Các chức năng cơ bản của quản lý nhà nước trong lĩnh vực này là định hướng, phối hợp, điều tiết, hỗ trợ và kiểm tra, giám sát. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra một khuôn khổ pháp lý và môi trường thuận lợi để người nghèo có cơ hội vươn lên, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung.

1.2. Đặc điểm kinh tế huyện Núi Thành và tỉnh Quảng Nam

Huyện Núi Thành nằm ở phía Nam tỉnh Quảng Nam, có vị trí địa lý chiến lược nhưng địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi sông suối, gây khó khăn cho giao thông và sản xuất. Dân cư chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp (lúa nước, lúa rẫy) và khai thác, nuôi trồng thủy sản ven biển. Đặc điểm kinh tế tỉnh Quảng Nam nói chung và kinh tế huyện Núi Thành nói riêng trong giai đoạn nghiên cứu cho thấy nhiều tiềm năng nhưng cũng tồn tại không ít thách thức. Dù đã có những chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ sản xuất, nhưng trình độ dân trí còn hạn chế, tư tưởng trông chờ, ỷ lại nhà nước còn phổ biến ở một bộ phận hộ nghèo và cận nghèo. Tình trạng thiếu đất canh tác, đầu ra nông sản không ổn định, và nguy cơ tái nghèo cao là những rào cản lớn. Những đặc điểm này đòi hỏi công tác quản lý nhà nước phải có những giải pháp đặc thù, phù hợp với điều kiện thực tế để khai thác hiệu quả các nguồn lực cho công tác giảm nghèo.

II. Thách thức cốt lõi trong quản lý giảm nghèo ở huyện Núi Thành

Giai đoạn 2012-2017, công tác quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện Núi Thành đã đạt được những thành tựu nhất định, tuy nhiên vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức lớn. Theo kết quả phân tích từ luận văn, những hạn chế chủ yếu tập trung ở khâu xây dựng kế hoạch và triển khai chính sách. Các chương trình đôi khi còn mang tính hình thức, chưa thực sự bám sát nhu cầu và điều kiện của từng nhóm đối tượng, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số. Việc triển khai các chính sách công như tín dụng ưu đãi, dạy nghề, hỗ trợ sản xuất chưa phát huy tối đa hiệu quả do cơ chế phối hợp thiếu đồng bộ và công tác giám sát chưa chặt chẽ. Một thách thức lớn khác là tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước vẫn còn tồn tại trong một bộ phận người dân, làm giảm tính chủ động và nỗ lực tự vươn lên. Những bất cập này, kết hợp với các yếu tố khách quan như thiên tai, dịch bệnh, đã làm gia tăng nguy cơ tái nghèo, đòi hỏi phải có sự đánh giá tác động chính sách một cách nghiêm túc để tìm ra nguyên nhân gốc rễ và có giải pháp khắc phục triệt để.

2.1. Hạn chế trong việc xây dựng chương trình kế hoạch

Thực trạng cho thấy việc xây dựng chương trình, kế hoạch giảm nghèo tại Núi Thành còn một số hạn chế. Công tác điều tra, khảo sát, phân loại hộ nghèo và cận nghèo đôi khi chưa sâu sát, dẫn đến việc xác định nguyên nhân nghèo chưa chính xác. Điều này khiến cho các kế hoạch hỗ trợ được xây dựng chưa thực sự phù hợp với nhu cầu thực tế của người dân. Một số chương trình được thiết kế còn mang tính áp đặt từ trên xuống, thiếu sự tham gia của cộng đồng và bản thân người nghèo trong quá trình lập kế hoạch. Sự lồng ghép các nguồn lực từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác tại địa phương chưa thực sự hiệu quả, gây ra tình trạng phân bổ nguồn lực dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm. Việc này làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giảm nghèo bền vững.

2.2. Bất cập khi triển khai các chính sách giảm nghèo

Quá trình triển khai các chính sách giảm nghèo tại huyện Núi Thành gặp không ít vướng mắc. Chính sách tín dụng ưu đãi dù đã giúp nhiều hộ có vốn sản xuất nhưng công tác giám sát sử dụng vốn sau vay còn lỏng lẻo, một số hộ sử dụng sai mục đích. Các chương trình đào tạo nghề chưa gắn liền với nhu cầu của thị trường lao động, dẫn đến tỷ lệ học viên có việc làm sau đào tạo chưa cao. Bên cạnh đó, các mô hình hỗ trợ sản xuất, chuyển giao khoa học kỹ thuật đôi khi chưa phù hợp với điều kiện canh tác và tập quán của người dân, đặc biệt ở các xã miền núi. Vai trò của chính quyền địa phương cấp xã trong việc theo dõi, đôn đốc và hỗ trợ người dân triển khai các mô hình còn hạn chế. Những bất cập này không chỉ làm lãng phí nguồn lực đầu tư mà còn không tạo ra được động lực thoát nghèo thực sự cho người dân.

III. Phương pháp hoàn thiện chính sách chương trình giảm nghèo

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo, luận văn đề xuất hai nhóm giải pháp trọng tâm: hoàn thiện công tác xây dựng chính sách và tăng cường hiệu quả truyền thông. Việc xây dựng chính sách cần chuyển đổi mạnh mẽ từ cách tiếp cận đơn chiều sang đa chiều, đảm bảo các chương trình không chỉ hỗ trợ về mặt kinh tế mà còn nâng cao khả năng tiếp cận y tế, giáo dục, nhà ở và thông tin cho người nghèo. Các chính sách công phải được xây dựng dựa trên cơ sở dữ liệu chính xác, có sự tham gia của người dân và phù hợp với đặc thù của từng vùng. Song song đó, công tác tuyên truyền cần được đổi mới, không chỉ dừng lại ở việc phổ biến chủ trương mà phải đi sâu vào việc thay đổi nhận thức, khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, xóa bỏ tư tưởng trông chờ ỷ lại. Việc kết hợp hài hòa giữa xây dựng chính sách giảm nghèo khoa học và công tác truyền thông hiệu quả sẽ tạo ra một nền tảng vững chắc cho công cuộc xóa đói giảm nghèo bền vững tại huyện Núi Thành.

3.1. Xây dựng chính sách công dựa trên chuẩn nghèo đa chiều

Giải pháp cốt lõi là phải xây dựng và thực thi chính sách dựa trên kết quả khảo sát theo chuẩn nghèo đa chiều. Thay vì chỉ tập trung vào tiêu chí thu nhập, cần phân tích sâu các chỉ số thiếu hụt về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin. Dựa trên dữ liệu này, chính quyền địa phương có thể thiết kế các gói hỗ trợ "may đo" cho từng nhóm hộ nghèo, giải quyết đúng và trúng những vấn đề họ đang đối mặt. Ví dụ, hộ thiếu hụt về giáo dục cần được ưu tiên hỗ trợ chi phí học tập, trong khi hộ thiếu hụt về nhà ở cần được đưa vào chương trình xây dựng nhà tình thương. Cách tiếp cận này giúp sử dụng nguồn lực cho công tác giảm nghèo một cách tối ưu, tránh dàn trải và nâng cao tác động thực tế của chính sách.

3.2. Tăng cường tuyên truyền phổ biến chính sách đến dân

Công tác tuyên truyền, vận động cần được xem là một giải pháp chiến lược. Nội dung tuyên truyền không chỉ là phổ biến các chính sách giảm nghèo mà cần tập trung vào việc nêu gương các mô hình giảm nghèo hiệu quả, các tấm gương vượt khó vươn lên. Cần sử dụng đa dạng các kênh truyền thông, từ hệ thống loa truyền thanh cơ sở, các buổi họp thôn, đến việc tận dụng mạng xã hội để thông tin đến được với mọi người dân. Cán bộ làm công tác giảm nghèo phải là những tuyên truyền viên tích cực, trực tiếp gặp gỡ, giải thích, vận động và tháo gỡ những vướng mắc trong tư tưởng của người nghèo. Mục tiêu là chuyển đổi nhận thức từ bị động, trông chờ sang chủ động tìm kiếm cơ hội, tự tin áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để thoát nghèo một cách bền vững.

IV. Bí quyết tối ưu hóa bộ máy và nguồn lực giảm nghèo tại chỗ

Sự thành công của công tác giảm nghèo phụ thuộc rất lớn vào năng lực của bộ máy thực thi và hiệu quả sử dụng các nguồn lực. Luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo từ cấp huyện đến cấp xã. Một bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu quả với đội ngũ cán bộ tâm huyết, có chuyên môn sẽ là đầu tàu dẫn dắt và triển khai thành công mọi chủ trương, chính sách. Bên cạnh nguồn nhân lực, việc huy động, quản lý và phân bổ các nguồn lực cho công tác giảm nghèo cũng là một bài toán cần lời giải tối ưu. Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách nhà nước, cần đa dạng hóa nguồn lực từ xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng. Việc lồng ghép hiệu quả các nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo với các chương trình xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế địa phương sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, giúp đầu tư có trọng điểm và mang lại hiệu quả bền vững, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội toàn diện.

4.1. Hoàn thiện bộ máy nâng cao năng lực cán bộ địa phương

Giải pháp quan trọng là cần ổn định đội ngũ cán bộ chuyên trách giảm nghèo ở cấp xã, tránh luân chuyển thường xuyên. Cần xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ định kỳ để cập nhật kiến thức về chính sách công, kỹ năng làm việc với cộng đồng, và phương pháp tiếp cận chuẩn nghèo đa chiều. Vai trò của chính quyền địa phương, đặc biệt là UBND huyện, là phải tạo cơ chế, chính sách đãi ngộ hợp lý để động viên, khuyến khích cán bộ yên tâm công tác. Bên cạnh đó, cần quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cấp, từng bộ phận trong bộ máy giảm nghèo, tăng cường sự phối hợp giữa Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội với các ban ngành, đoàn thể khác như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ để tạo thành một mạng lưới hỗ trợ chặt chẽ, hiệu quả.

4.2. Huy động và phân bổ nguồn lực giảm nghèo hiệu quả

Để tối ưu hóa nguồn lực, cần thực hiện cơ chế phân cấp mạnh mẽ hơn cho cấp xã trong việc quản lý và sử dụng nguồn vốn từ các chương trình giảm nghèo. Điều này giúp các dự án được triển khai nhanh chóng và phù hợp hơn với thực tế. Cần đẩy mạnh xã hội hóa, kêu gọi sự tham gia của các doanh nghiệp trên địa bàn thông qua các chương trình trách nhiệm xã hội, hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm cho lao động địa phương. Việc lồng ghép các nguồn vốn cần được thực hiện một cách khoa học, ưu tiên đầu tư cho các công trình hạ tầng thiết yếu (giao thông, thủy lợi) và các mô hình giảm nghèo hiệu quả có khả năng nhân rộng. Công khai, minh bạch trong việc phân bổ và sử dụng nguồn lực, cùng với cơ chế giám sát của cộng đồng, sẽ giúp ngăn chặn lãng phí, tiêu cực và đảm bảo nguồn lực đến đúng đối tượng, phát huy hiệu quả tối đa.

V. Đánh giá tác động chính sách và các mô hình giảm nghèo hay

Việc đánh giá tác động chính sách là một nội dung quan trọng trong quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo. Luận văn đã chỉ ra, trong giai đoạn 2012-2017, huyện Núi Thành đã triển khai đồng bộ nhiều chính sách và đạt được kết quả tích cực, thể hiện qua tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo giảm dần qua các năm. Các chính sách hỗ trợ về y tế, giáo dục, tín dụng ưu đãi đã giúp người nghèo cải thiện điều kiện sống và có thêm cơ hội phát triển sản xuất. Tuy nhiên, tác động của một số chính sách chưa thực sự bền vững, tỷ lệ tái nghèo còn cao. Bên cạnh việc đánh giá chung, nghiên cứu cũng học hỏi kinh nghiệm từ các địa phương lân cận như huyện Phú Ninh và Thăng Bình, nơi đã xây dựng thành công nhiều mô hình giảm nghèo hiệu quả. Các mô hình như kinh tế vườn - ao - chuồng, nuôi cá lồng, phát triển kinh tế trang trại đã chứng minh được tính ưu việt. Việc nhân rộng các mô hình này, có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện của Núi Thành, là một hướng đi thực tiễn để thúc đẩy xóa đói giảm nghèo bền vững.

5.1. Kết quả thực tiễn giảm nghèo giai đoạn 2012 2017

Trong giai đoạn 2012-2017, nhờ sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, công tác giảm nghèo tại Núi Thành đã có những chuyển biến rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo của huyện đã giảm từ 14,56% (năm 2011) xuống còn 4,8% (cuối năm 2017). Hàng nghìn lượt hộ nghèo được vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội để phát triển sản xuất. 100% người thuộc hộ nghèo, cận nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế. Các chính sách miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập đã tạo điều kiện cho con em hộ nghèo được đến trường. Hàng trăm ngôi nhà tạm đã được xóa bỏ nhờ các chương trình hỗ trợ nhà ở. Những con số này cho thấy nỗ lực to lớn của chính quyền và nhân dân huyện trong việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, góp phần quan trọng đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn.

5.2. Bài học kinh nghiệm từ các mô hình giảm nghèo hiệu quả

Kinh nghiệm từ các huyện lân cận như Phú Ninh và Thăng Bình cho thấy, chìa khóa thành công nằm ở việc xây dựng và nhân rộng các mô hình giảm nghèo hiệu quả, phù hợp với điều kiện địa phương. Các mô hình này thường không đầu tư dàn trải mà tập trung hỗ trợ đồng bộ từ vốn, kỹ thuật, đến kết nối đầu ra sản phẩm. Tại Phú Ninh, mô hình kinh tế vườn - ao - chuồng đã giúp nhiều hộ tận dụng được đất đai, tạo ra chu trình sản xuất khép kín. Tại Thăng Bình, chương trình cho vay vốn thông qua ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội đã phát huy hiệu quả cao. Bài học rút ra cho Núi Thành là cần chú trọng công tác tổng kết, đánh giá để xác định các mô hình phù hợp, từ đó có chính sách khuyến khích, hỗ trợ nhân rộng, tạo ra sức lan tỏa trong cộng đồng, giúp người dân thay đổi cách nghĩ, cách làm và tự vươn lên thoát nghèo.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện núi thành tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo và thực tiễn về công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo trên dia bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bản huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. 13 CHUONG I CƠ SỞ LÝ LUAN VE CONG TAC QUAN LY NHA NUOC VE GIAM NGHEO VA THYC TIEN VE CONG TAC QUAN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO.1, KHAL QUAT VE GIAM NGHEO VA QUAN LY NHA NUOC VE GIAM NGHEO 1. Khái niệm gi «a.

Khái niệm nghèo “Tháng 6/2008, tuyên bố của Liên hợp quốc được lãnh đạo của tất cả các tổ chức trong Liên hiệp quốc (UN) thông qua đã nêu: “Nghẻo là thiếu năng. lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghéo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đại để tring trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiắp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa sự không an toàn, không có quyển, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng.

nghĩa đễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn "[35]. Tại Hội nghị chống nghèo đói do Ủy ban Kinh tế - Xã hội Khu vực Châu. A- Thai Binh Duong tổ chức tại BangKok tháng 9/1993, các nước trong khu vực thống nhất rằng “Aghẻo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả. năng thỏa mãn những như cầu cơ bản của con người mà nhú cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận ”.

Theo khái niệm này thi tiêu chí và chuẩn mực đánh giá về nghèo đói còn để ngỏ về định lượng hay nói cách khóc tiêu chuẩn về đánh giá nghèo đôi ở các quốc gia và các ving lãnh thổ là khác nhau” Đến năm 1995, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển xã hội tổ 14 chức tại Copenhagen (Đan Mạch) đã đưa ra khái niệm:” Agưởi nghèo là đắt cá những ai mà thu nhập thấp hơn dưới ! đô la Mỹ (USD) môï ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua với những sản phẩm thiết yêu dé ton tai”. Khác với khái niệm trên, khái niệm này đã có tính định lượng nhưng không, tính đến sự thay đối về thời gian của vấn đề nghèo và cũng chỉ mới đề cập. Sau nhiều năm thực hiện cuộc chiến chống đói nghèo, trong “ Báo cáo. về tình hình phát triển thế giới 2000-2001 — Tắn công nghèo đói”, Ngân hàng.

Thế giới đã thừa nhận quan điểm: “ Nghèo không chỉ là mức thư nhập và tiêu dùng thấp mà còn bao gồm mức độ hưởng thụ thấp về giáo dục, y tế, dinh cưỡng và các lĩnh vực khác của sự phát triển con người” [36]. Quan diém nay đã có cách nhìn toàn diện hơn về vấn đề nghèo, đó là nghèo đa chiều. Tir nim 2007, Alkire và Foster đã bắt đầu nghiên cứu về một cách thức .đo lường mới về nghèo, đơn giản nhưng vẫn đáp ứng tính da chiều của nghèo. “Cách thức đo lường này đã được UNDP sử dụng để tính toán chỉ số nghèo đa chiéu (MPI) lan đầu tiên được giới thiệu tỏng báo cáo phát triển con người năm 2010 và được đề xuất áp dụng thống nhất trên thể giới sau năm 2015 đẻ theo dõi, đánh giá nghèo.

Chỉ tổng hợp này được tính toán dựa trên 3 cÍ nghèo Y , Giáo dục và Điều kiện phúc lợi. Chuẩn nghèo được xác định bằng 1/3 tổng số thiểu hụt. Mặc dù các khái niệm được đưa ra có một số điểm khác biệt nhưng có thể thấy các quốc gia, các nhà cl trị và các học giả đều thống nhất rằng nghèo là một hiện tượng đa chiều, tỉnh trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụUkhông được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Nhu vậy, nghèo đa chiều có thể được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.

' Việt Nam khái niệm đói nghèo được định nghĩa như sau: 15 'Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp, hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Trong hoàn cảnh. nghèo thì người nghèo và hộ nghèo cũng chỉ vật lộn với những mưu sinh hàng, ngày và kinh tế vật chat, biểu hiện trực tiếp nhất ở bữa ăn. Họ không thể vươn tới các nhu cầu về văn hóa, tỉnh thần hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm.

bớt tới mức tối thiểu gần nhất, gần như không có. Một cách hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo. Nhưng ngường nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thé hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia. Nghèo được chia thành các mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cẩu tối thiểu.

~ Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo. không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi lại. ~ Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét. ~ Nghèo có nhu câu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư có.

những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu. Ở Việt Nam, thời gian qua chuẩn nghỏo, tỷ lệ nghèo và xác định đối tượng nghèo hoàn toàn dựa vào các tiêu chỉ thu nhập, trong đó chuẩn nghèo được xác định theo phương pháp “chi phí cho các nhu cầu cơ bản”. cơ bản là chỉ cho nhu cầu tối thiểu về lương thực và chỉ cho phi lương thực thiết thiết yếu (giáo dục, y tế, nha 6. Giống như quá phat tri 1, nghèo đói là một khái niệm đa chiều.

16 Trong cùng một thời điểm, người nghèo có thể phải đối mặt với nhiều bắt lợi khác nhau, có thể là những khó khăn trong khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, đất đai, nước sạch hoặc điện thấp sáng. Sử dụng một tiêu chí thu nhập (hay. chỉ tiêu) không đủ để nắm bắt được tình trạng nghèo thực tế của người dân. Đánh giá nghèo cần được tiếp cận rộng hơn từ chiều cạnh phát triển toàn diện con người.

Sau 30 năm đổi mới, phát triển và hội nhập, Việt Nam đã chuyển. từ một quốc gia thu nhập thấp sang nhóm nước có thu nhập trung bình nên cách cân đánh giá nghèo đơn chiều theo thu nhập đã bộc lộ những hạn. Đã đến lúc xem xét, đánh giá nghèo theo nhiều góc độ từ góc độ nghèo. vật chất, nghèo về con người và nghèo về xã hội Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập ở Việt Nam từ năm 2013 nhằm.

hướng t việc dựng lên một bức tranh đầy đủ và toàn điện hơn về thực trạng, nghèo ở nước ta. Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Nghị quyết s 76/ 2014/QH13 về việc đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, trong đó nêu rõ: *Xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và đáp ứng các dịch vụ xã hội cơ bản”. Quyết định số 2324/ QD-TTg ngày 19/12/2014 của Thủ. tướng Chính phủ ban hành kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết số 76/ 2014/ QH13 của Quốc Hội đã xác định rỡ nhiệm vụ xây dựng, nghiên cứu xây dựng đề án tổng thể về đổi mới phương pháp tiếp cận nghèo ở Việt Nam từ đơn chiều sang đa chiều, trình Chính phủ xem xét vào cuối năm 2015.[33] Ngày 15/9/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ký kết quyết định số 1614/ QD ~ TTg phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020”.

“Chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020 của Việt Nam được xây dựng theo hướng sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiéu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo được xây dựng trên cơ sở: 7 ~ Các tiêu chí về thu nhập. ~ Mức độ thiểu hụt trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin. Nghèo thay đổi theo thời gian, kinh tế cảng phát triển thì nhu cầu cơ bản của con người cũng có xu hướng tăng lên ngày một cao hơn; nghèo cũng thay đổi theo không gian, theo khái niệm trên cũng chỉ cho chúng ta thấy rằng sẽ không có chuẩn nghèo chung cho tắt cả các nước, vì nó phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia và từng vùng, xu hướng chung là các nước càng phát triển thì ngưỡng đói nghèo cảng cao hơn.

"Đôi nghèo là một khái niệm động, phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội, lịch sử, mức độ tăng trưởng kinh tế và nhu cầu phát triển của con người Ỡ một thời điểm, một vùng, một quốc gia là đói nghèo nhưng một thời điểm khác, vùng khác, một quốc gia khác thì chỉ số đó mắt ý nghĩa. Do đó, rất khó quy định hợp lý một chuẩn mực chung về đói nghèo cho tắt cả mọi quốc gia, ngay trong một quốc gia cũng có thể khác nhau giữa các vùng, giữa các thời kỳ. Khái niệm giảm nghèo. Giảm nghèo là tổng thể các biện pháp, chính sách của Nhà nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo, nhằm tạo điều kiện để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trang thu nhập không đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định theo từng địa phương, khu vực và quốc gia 1.

Khái niệm quản lý nhà nước về giảm nghèo .Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý nhưng nhìn chung có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một cách gián tiếp hoặc trực tiếp nhằm đạt dược những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến đổi của môi trường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ