CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập Theo Điều 2-Điểm 1 Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập thì “Đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công phục vụ quản lý Nhà nước”.1] Theo tác giả TS.Đỗ Huyền Trang-TS.Lê Thị Thanh Mỹ (năm 2018) “Đơn vị sự nghiệp Nhà nước là đơn vị hoạt động cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội và các dịch vụ khác trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, nông-lâm-ngư nghiệp…, nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần của người dân, duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân. Các đơn vị sự nghiệp Nhà nước hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, mà mang tính chất phục vụ cộng đồng là chính hay còn gọi là các đơn vị hoạt động vô vị lợi”.4] Theo giáo trình “Tài chính hành chính sự nghiệp” Đơn vị sự nghiệp Nhà nước là: “Các đơn vị hoạt động cung ứng các hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội và các hàng hóa, dịch vụ khác trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, nông-lâm-ngư nghiệp…., nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống vật chất tinh thần của người dân.
Đặc tính của đơn vị sự nghiệp là không vì mục tiêu lợi nhuận, mang tính chất phục vụ cộng đồng là chính”.13] Căn cứ vào các khái niệm trên tác giả khái quát đơn vị sự nghiệp Nhà nước là đơn vị sự nghiệp có nguồn thu sự nghiệp, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, có tư cách pháp nhân là đơn vị có dự toán độc lập, có e 9 con dấu, tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo Luật kế toán, hoạt động cung ứng hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội trong lĩnh vực giáo dục, y tế, nông-lâm-ngư nghiệp, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Căn cứ theo phân cấp quản lý tài chính tại đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước, có 3 cách phân loại đơn vị hành chính sự nghiệp: 1. Phân loại theo ngành dọc - Đơn vị dự toán cấp 1: Là cơ quan chủ quản các ngành hành chính sự nghiệp trực thuộc Trung ương và địa phương như các Bộ, tổng cục, sở, Ban…. Đơn vị dự toán cấp 1 nhận kinh phí từ Thủ tướng Chính phủ hoặc chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Trực tiếp quan hệ với chính quyền tổ chức để nhận và thanh quyết toán nguồn kinh phí cấp phát. Đơn vị dự toán cấp 1 có trách nhiệm: + Tổng hợp, quản lý toàn bộ vốn của Ngân sách giao, sau đó phân bổ cho các đơn vị cấp dưới. + Phê chuẩn dự toán quý, năm của các đơn vị cấp dưới. + Tổng hợp các khoản chi, nguồn hình thành kinh phí của các đơn vị cấp dưới để báo cáo với cơ quan Nhà nước.
- Đơn vị dự toán cấp 2: Trực thuộc đơn vị dự toán cấp 1, chịu sự lãnh đạo trực tiếp về tài chính và quan hệ cấp phát vốn của đơn vị dự toán cấp 1, phân bổ nguồn kinh phí, nối liền giữa đơn vị dự toán cấp 1 với đơn vị dự toán cấp 3. - Đơn vị dự toán cấp 3: là đơn vị trực tiếp sử dụng Ngân sách, chịu sự quản lý của đơn vị dự toán cấp 2 về mặt tài chính. Định kỳ đơn vị có nhiệm vụ tổng hợp các khoản chi và nguồn hình thành kinh phí trong đơn vị lên cấp 2. Phân loại theo cấp Ngân sách - Đơn vị dự toán cấp Trung ương: Sử dụng nguồn Ngân sách cấp Trung ương.
e 10 - Đơn vị dự toán cấp Tỉnh: Sử dụng nguồn Ngân sách cấp Tỉnh - Đơn vị dự toán cấp Huyện: Sử dụng nguồn Ngân sách cấp Huyện 1. Phân loại theo khả năng tự đảm bảo kinh phí - Đơn vị hành chính thuần túy là cơ quan công quyền trong bộ máy hành chính Nhà nước như công chứng, Ủy ban, các bộ…. Các đơn vị này được Ngân sách cấp 100% kinh phí hoạt động. - Đơn vị hoạt động có thu hay còn gọi đơn vị tự đảm bảo kinh phí đây là các đơn vị hoạt động trên một lĩnh vực cụ thể nào đó như văn hóa, y tế, nghiên cứu khoa học… có 4 mức độ đảm bảo kinh phí: + Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư: Là các đơn vị có nguồn thu sự nghiệp bảo đảm được toàn bộ hoạt động thường xuyên, hoạt động xây dựng cơ bản, cũng như hoạt động khác của đơn vị không cần NSNN cấp kinh phí để hoạt động.
+ Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên: Là các đơn vị có nguồn thu sự nghiệp bảo đảm được toàn bộ hoạt động thường xuyên của đơn vị không cần NSNN cấp kinh phí để hoạt động. + Đơn vị tự đảm bảo một phần chi thường xuyên: Là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp nhưng chưa đảm bảo toàn bộ hoạt động thường xuyên của đơn vị cần phải NSNN cấp thêm một phần kinh phí để hoạt động. + Đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên: là đơn vị sự nghiệp có nguồn thu thấp hoặc không có nguồn thu, toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên của đơn vị đều do NSNN cấp để hoạt động. Đặc điểm hoạt động quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý tài chính * Đặc điểm hoạt động Đặc điểm hoạt động sự nghiệp của các đơn vị SNCL bao gồm hoạt động sự nghiệp, hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ.
Hoạt động e 11 sự nghiệp là hoạt động chủ yếu của các đơn vị và được Nhà nước giao chức năng, nhiệm vụ thực hiện dịch vụ công ích để phục vụ xã hội, phi lợi nhuận. Hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ là hoạt động mở thêm của các đơn vị trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao tại các đơn vị SNCL được phép tổ chức hoạt động SXKD, cung ứng dịch vụ trên cơ sở lấy thu bù chi và có tích lũy nhằm tăng thu nhập cho người lao động và đáp ứng nhu cầu của xã hội. Ví dụ: Trường Cao đẳng Y tế Phú Yên được Nhà nước giao chức năng giảng dạy điều dưỡng, Dược, Y sĩ đa khoa, Hộ sinh các loại hình đào tạo hệ chính quy và không chính quy, thông qua đó nhận dịch vụ đào tạo liên kết với các tỉnh lân cận (ĐăkLăk, KonTum, Gia Lai, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Trà Vinh, Cần Thơ). * Đặc điểm quản lý tài chính Tài chính của đơn vị SNCL được quy định phù hợp với từng loại hình đơn vị.
Do các đơn vị có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công cho xã hội nên nguồn tài chính chủ yếu dựa vào những khoản cấp phát từ Ngân sách Nhà nước. Ngoài ra có một số các khoản thu có nguồn gốc từ Ngân sách, các khoản thu hoạt động dịch vụ do đơn vị tự khai thác hoặc từ quyên góp, tặng biếu không phải nộp Ngân sách Nhà nước. * Nội dung thu, nhiêm vụ chi của đơn vị sự nghiệp công lập Thu do NSNN cấp: đối với kinh phí do NSNN cấp đơn vị phải lập dự toán chi phù hợp và bảo vệ dự toán đã lập. Khi có nhu cầu chi, đơn vị trực tiếp nhận kinh phí từ Kho bạc Nhà nước.
Phí, lệ phí: Về nguyên tắc các khoản phí, lệ phí sau khi thu, đơn vị có trách nhiệm nộp toàn bộ về KBNN nhưng nhằm bảo đảm việc tổ chức thu, tùy từng loại phí, lệ phí mà Nhà nước cho phép được để lại một tỷ lệ nhất định. Mức thu có thể ấn định cụ thể hay qui định dưới dạng khung hoặc đơn vị được chủ động xác định mức thu. e 12 Thu từ hoạt động SXKD: Tùy theo mỗi đơn vị, khoản thu hoạt động SXKD phát sinh có qui mô, tần suất và nội dung khác nhau. Mức thu do đơn vị tự quyết định trên nguyên tắc bảo đảm bù đắp đủ chi phí, có tích lũy và chịu sự kiểm soát, điều tiết của Nhà nước.
Với xu hướng nâng cao quyền tự chủ tài chính, nguồn thu ngày càng tăng. Các khoản huy động để phục vụ hoạt động SXKD và nguồn thu từ hoạt động liên doanh, liên kết: Đơn vị hoàn toàn chủ động và chịu trách nhiệm hoàn trả khi tiến hành huy động các nguồn vốn cần thiết phục vụ cho hoạt động SXKD. Khi khai thác nguồn thu này cần tính đến nhu cầu, chi phí sử dụng. Các khoản thu từ hoạt động liên doanh, liên kết được xác định trên cơ sở thỏa thuận giữa đơn vị với đối tác theo đúng qui định.
Khoản viện trợ không trả lại: Đơn vị phải làm thủ tục để cơ quan có thẩm quyền ghi thu, ghi chi NSNN. Các khoản thu khác: đơn vị được quyền chủ động xác định mức thu trên cơ sở tuân thủ qui định của pháp luật và sự thỏa thuận với chủ đề liên quan. * Nhiêm vụ chi : - Các khoản chi trong đơn vị SNCL bao gồm chi tiền lương, các khoản trích nộp theo lương; nguyên liệu, vật liệu; mua sắm TSCĐ, sửa chữa TSCĐ, chi dịch vụ mua ngoài; chi trả lãi tiền vay, lãi tiền huy động theo hình thức vay vốn; chi các khoản thuế theo quy định và các khoản khác. Căn cứ vào cơ chế quản lý, các khoản chi được chia thành chi thực hiện tự chủ và chi không thực hiện tự chủ.
Căn cứ vào mục đích chi, các khoản chi bao gồm chi thường xuyên và chi không thường xuyên. Các khoản chi thường xuyên được quản lý theo dự toán đồng thời theo quy chế chi tiêu nội bộ, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu minh bạch hoạt động tài chính. Đối với các khoản chi không thường xuyên phải được lập chi tiết trong dự toán, chỉ được chi khi có trong e 13 dự toán, không được chuyển nguồn kinh phí các khoản chi không thường xuyên này sang các khoản chi thường xuyên khác. Đối với các khoản chi đầu tư phát triển thường phát sinh trong nhiều năm Ngân sách nên việc cấp phát, quản lý phải phù hợp với đặc thù này.