CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Lý luận cơ bản về thuế thu nhập doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1.1 Khái niệm Doanh nghiệp ngoài quốc doanh Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ban hành ngày 26/11/2014 định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.[1] "Doanh nghiệp ngoài quốc doanh được hiểu là các loại hình doanh nghiệp không thuộc sở hữu của Nhà nước, trừ Hợp tác xã. Toàn bộ vốn, lợi nhuận của doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều thuộc sở hữu tư nhân hay tập thể người lao động. Chủ sở hữu chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước mà không chịu bất cứ sự chi phối nào từ các quyết định của Nhà nước hay cơ quan quản lý.
”[1] Thực tiễn cho thấy, với sự phát triển rộng khắp cả nước, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã góp một vai trò quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh với hàng nghìn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là khu vực đóng góp ngày càng quan trọng vào sự tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội. Cho đến nay, mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã trở thành lực lượng chủ công trong nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế, trong tất cả các ngành, từ nông nghiệp đến công nghiệp, từ thương nghiệp nội địa đến xuất, nhập khẩu. Vị trí của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh mỗi năm được tăng lên trong đầu tư phát triển cũng như trong tăng trưởng đã trở thành xu thế tất yếu của nền kinh tế Việt Nam, không chỉ hiện nay mà còn có ý nghĩa quyết định cả trong tương lai.
6 Hơn nữa, sự tham gia của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là nhân tố chủ yếu thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế từ nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế phát triển đa dạng, cả công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, theo yêu cầu của thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Có thể khẳng định rằng, nếu chỉ đơn thuần dựa vào đầu tư của Nhà nước, không dựa vào lực lượng của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh thì chắc chắn không thể thực hiện được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng thị trường. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn là nơi đảm bảo đại đa số chỗ làm việc cho người lao động, là lực lượng to lớn nhất trong các hoạt động xã hội, từ thiện, xóa đói giảm nghèo, góp phần giảm bớt chênh lệch giàu, nghèo trong xã hội. Trên thực tế, nơi giải quyết việc làm chủ yếu và quyết định nhất cho số người đến tuổi lao động dôi dư từ các doanh nghiệp Nhà nước được sắp xếp lại vẫn dựa vào khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Như vậy, với sự năng động và nhạy bén của mình, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã trở thành nhân tố chủ yếu thúc đẩy sức cạnh tranh của nền kinh tế, huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội vào quá trình sản xuất, kinh doanh, tăng nguồn thu cho NSNN, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Hơn nữa, cùng với các thành phần kinh tế khác, sự phát triển của doanh nghiệp ngoài quốc doanh về số lượng lẫn chất lượng đã góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.2 Phân loại doanh nghiệp ngoài quốc doanh * Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm: [1] - Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanhnghiệp. Với tư cách là chủ sở hữu duy nhất, nhà đầu tư có toàn quyền quyết định các hoạt động kinh doanh của mình bao gồm cả lợi nhuận thu được. Tuy nhiên, chủ 7 doanh nghiệp lại là người phải chịu rủi ro rất lớn, chịu trách nhiệm cá nhân đối với toàn bộ rủi ro nếu xảy ra trong hoạt động kinh doanh.
Nghĩa là khi hoạt động kinh doanh phát sinh thua lỗ, chủ doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng khánh kiệt, phá sản dễ dàng. Do đó, đây là loại hình doanh nghiệp đầy tính rủi ro đối với nhà đầu tư. Doanh nghiệp tư nhân không được coi là pháp nhân. - Các công ty: + Công ty cổ phần: Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, trong đó cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân với số lượng tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa.
Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông (Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó) và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân và có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn. + Công ty trách nhiệm hữu hạn: Công ty TNHH một thành viên: Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, không được quyền phát hành cổ phần.
Công ty TNHH hai thành viên trở lên: Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó thành viên có thể là tổ chức, cá nhân có số lượng thành viên không vượt quá 50 người; thành viên chịu 8 trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và không được quyền phát hành cổ phần. + Công ty hợp doanh: là doanh nghiệp phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung. Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn.
Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ của mình về các nghĩa vụ của công ty; thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. + Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập hoặc là doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập hoặc mua lại 100% vốn để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Doanh nghiệp được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên, công ty cổ phần hoặc công ty hợp danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Doanh nghiệp liên doanh: Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn góp cam kết góp vào vốn pháp định của doanh nghiệp. Doanh nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp Giấy phép đầu tư.
Khái niệm và vai trò về thuế, thuế thu nhập doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về thuế và thuế TNDN Dưới bất kỳ xã hội nào, khi có Nhà nước là phải có thuế, tùy cách tiếp cận khác nhau sẽ có khái niệm thuế khác nhau: - Xét về góc độ Nhà nước, thuế là một khoản thu của Nhà nước đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội. Khoản thu này mang tính bắt buộc, không hoàn trả trực tiếp và được pháp luật qui định. [2] - Xét về góc độ người nộp thuế, thuế là khoản đóng góp mang tính pháp luật của Nhà nước, bắt buộc mọi người dân hoặc các tổ chức kinh tế đóng góp một phần thu nhập vào NSNN, để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. [23] - Thuế là khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được Pháp luật qui định để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
[2] Thuế là hình thức huy động tài chính cho Nhà nước. Khi Nhà nước ra đời, thuế là công cụ để Nhà nước có nguồn thu nhằm trang trải các chi tiêu của Nhà nước. Nhà nước dùng quyền lực của mình ban hành các Luật thuế để bắt buộc người dân và các đối tượng khác trong xã hội đóng góp cho Ngân sách nhà nước (NSNN).