CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ðỀ LÝ LUẬN VỀ AN SINH XÃ HỘI 1. KHÁI QUÁT VỀ AN SINH XÃ HỘI 1. Khái niệm An sinh xã hội luôn ñược coi là một trong những vấn ñề cốt lõi của sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, mỗi quốc gia, trong từng giai ñoạn lịch sử cụ thể có quan niệm khác nhau ñối với sự phát triển hệ thống an sinh xã hội.
An sinh xã hội theo quan ñiểm của một số tổ chức quốc tế cũng có mức ñộ rộng, hẹp và ñối tượng hướng tới khác nhau. Trong Hiến chương ðại Tây Dương, an sinh xã hội ñược hiểu là sự dảm bảo thực hiện quyền con người trong hoà bình, ñược tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát triển chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; ñược bảo vệ và bình ñẳng trước pháp luật; ñược học tập, làm việc và nghỉ nghơi; có nhà ở; ñược chăm sóc y tế và ñảm bảo thu nhập ñể có thể thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, thai sản, tuổi già,… Theo Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng: “An sinh xã hội là những biện pháp của chính phủ nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia ñình và cộng ñồng ñương ñầu và kiềm chế ñược nguy cơ tác ñộng ñến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập”. Theo quan niệm của Tổ chức lao ñộng quốc tế (ILO): “ An sinh xã hội là một sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp ñược áp dụng rộng rãi ñể ñương ñầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nhiêm trọng thu nhập do ốm ñau, thai sản, thương tật do lao ñộng, mất sức lao ñộng hoặc tử vong. Cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia ñình nạn nhân có trẻ em”.
Theo ILO, an sinh xã hội bao gồm: chăm sóc y tế, bù ñắp việc giảm hoặc mất Luan van 8 thu nhập do ốm ñau, thai sản, tai nạn lao ñộng, hưu trí, mất sức lao ñộng, tử tuất, thất nghiệp, và một số chế ñộ ñược quy ñịnh trong một số công ước của ILO liên quan tới chăm sóc trẻ em. Như vậy, theo ILO thì an sinh xã hội là phạm trù rộng hơn bảo hiểm xã hội (bao gồm cả bảo hiểm xã hội). Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cũng cho rằng: “An sinh xã hội là các chính sách, chương trình giảm nghèo và giảm sự yếu thế bởi sự thúc ñẩy có hiệu quả thị trường lao ñộng giảm thiểu rủi ro của người dân và nâng cao năng lực của họ ñể ñối phó với rủi ro và suy giảm hoặc mất thu nhập”. An sinh xã hội có 5 hợp phần: (I) các chính sách và chương trình thị trường lao ñộng; (II) bảo hiểm xã hội; (III) trợ giúp xã hội; (IV) quỹ hỗ trợ phát triển cộng ñồng và (V) bảo vệ trẻ em.
Ở Việt Nam, mặc dù an sinh xã hội là lĩnh vực còn nhiều mới mẻ nhưng cũng ñã giành ñược sự quan tâm của nhiều học giả, nhà quản lý nghiên cứu và cộng ñồng xã hội.TS Mai Ngọc Cường cho rằng phạm trù an sinh xã hội có thể ñược tiếp cận ở hai giác ñộ là theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, an sinh xã hội là sự ñảm bảo thực hiện các quyền ñể con người ñược an bình, an ninh, an toàn và an khang trong xã hội. Theo nghĩa hẹp, an sinh xã hội là sự ñảm bảo thu nhập và một số ñiều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia ñình và cộng ñồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao ñộng hoặc mất việc làm; cho những người già cô ñơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai ñịch hoạ [9]. Các khái niệm về an sinh xã hội nói chung khá nhiều song ñều thống nhất ở bản chất của nó.
Theo tác giả quan ñiểm của tác giả Bùi Sỹ Lợi là ñầy ñủ về bản chất của an sinh xã hội: “an sinh xã hội là sự bảo vệ, trợ giúp của Nhà nước và cộng ñồng ñối với những người “yếu thế” trong xã hội bằng các biện pháp khác nhau nhằm hỗ trợ cho các ñối tượng khi họ bị suy giảm khả Luan van 9 năng lao ñộng, giảm sút thu nhập hoặc gặp rủi ro, bất hạnh, rơi vào tình trạng nghèo ñói, hoặc là ốm ñau, thai sản, tai nạn lao ñộng, qua ñó ñộng viên, khuyến khích họ tự lực vươn lên giải quyết vấn ñề của chính mình”. Tác giả chọn quan ñiểm của tác giả Bùi Sỹ Lợi làm ñịnh hướng chính cho nghiên cứu luận văn của mình về công tác an sinh xã hội. Bản chất của an sinh xã hội Theo khái niệm an sinh xã hội ở trên, có thể thấy: An sinh xã hội ñược tất cả các nước trên thế giới cũng như Liên Hiệp quốc thừa nhận là một trong những quyền của con người trong mọi thời ñại và mọi chế ñộ xã hội vì nó có mục tiêu và bản chất rất tốt ñẹp. Mục tiêu của an sinh xã hội là tạo ra một lưới an toàn cho mọi thành viên trong cộng ñồng xã hội, khi bất cứ một cá nhân trong cộng ñồng không may gặp rủi ro hoặc lâm vào tình cảnh yếu thế, bản chất của an sinh xã hội thể hiện ở chỗ: - An sinh xã hội là một chính sách có mục tiêu cụ thể và chính sách này thường ñược cụ thể hoá bởi luật pháp, chương trình quốc gia và nó còn tồn tại ngày trong tiềm thức mỗi con người, mỗi cộng ñồng dân tộc.
An sinh xã hội là một hệ thống các chính sách, các chương trình…, cho nên ñể cụ thể hoá và tổ chức thực hiện an sinh xã hội, tuỳ theo ñiều kiện hoàn cảnh của từng nước mà người ta ñã xây dựng thành từng chế ñộ an sinh xã hội hoặc xây dựng một hệ thống an sinh xã hội ñể cụ thể hoá chính sách bảo hiểm xã hội hay tổ chức một cụm chính sách ñể xây dựng hệ thống an sinh xã hội như: chính sách BHXH, chính sách ưu ñãi xã hội, chính sách cứu trợ xã hội,… - An sinh xã hội là một cơ chế, là công cụ ñể thực hiện phân phối lại thu nhập vừa chặt chẽ, cụ thể theo ñúng pháp luật có liên quan, lại vừa năng ñộng linh hoạt ñể phát huy tối ña sức mạnh của cộng ñồng. Trong ñó, phân phối lại theo luật pháp có liên quan ñóng vai trò chủ ñạo. Theo pháp luật, phân phối lại ñược thực hiện cả theo chiều ngang lẫn chiều dọc. Theo chiều Luan van 10 ngang có nghĩa là, phân phối lại giữa những người khỏe mạnh với những người không may bị ốm ñau, tai nạn; giữa nam với nữ; giữa những gia ñình không có con hoặc ít con với những gia ñình ñông con… Còn theo chiều dọc có nghĩa là phân phối lại giữa những người giàu, có thu nhập cao với những người nghèo có thu nhập thấp thậm chí mất thu nhập.
Kinh nghiệm của các nước kinh tế phát triển cho thấy, tiến hành phân phối lại theo chiều dọc thường có hiệu quả hơn và diện ñược phân phối sẽ rộng hơn. Bởi vì, thông qua các chính sách thuế thu nhập, giá cả và chính sách chi tiêu công cộng sẽ góp phần làm cho số thu ngân sách ngày càng tăng, ñồng thời lại tiết kiệm ñược chi tiêu ngân sách. Từ ñó, ngân sách Nhà nước và ngân sách ñịa phương mới có cơ sở vững chắc và ñủ lớn ñể tiến hành phân phối lại nhằm ñảm bảo an sinh xã hội. - An sinh xã hội là sự che chắn, bảo vệ cho các thành viên trong xã hội trước các rủi ro và những biến cố bất lợi xảy ra.
Tuy nhiên, cứu trợ và diện ñược che chắn và bảo vệ lại không giống nhau ở mỗi nước và ngay trong một nước cũng luôn có sự khác nhau giữa các thời kỳ. Bởi vì, tất cả còn phụ thuộc vào ñiều kiện kinh tế xã hội và thể chế chính trị của từng nước. Chẳng hạn, trong thời kỳ bao cấp ở nước ta cũng như ở nhiều nước XHCN, tuy ngân sách Nhà nước có hạn, song người dân ñi khám bệnh không phải trả tiền, người lao ñộng không bị thất nghiệp và tính ưu việt thể hiện khá rõ trong các chính sách xã hội. Tuy nhiên, do ñiều kiện kinh tế yếu kém nên không thể thực hiện và duy trì ñược lâu dài cho dù mục tiêu là hết sức tốt ñẹp.
Vì thế, khi bước vào cơ chế thị trường, Chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa buộc phải thay ñổi lại chính sách. Trong hoàn cảnh ñó bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp ñã lần lượt ra ñời ở mỗi nước trên cơ sở ñóng góp của cộng ñồng ñể hình thành quỹ bảo hiểm, ñồng thời có sự bảo trợ của Nhà nước. Cũng do ñiều kiện kinh tế - xã hội chi phối mà diện ñược bảo vệ và che chắn trong hệ thống an sinh xã Luan van 11 hội của các nước thường ñược chia ra thành các lưới khác nhau: + Lưới thứ nhất, thường che chắn và bảo vệ cho người lao ñộng và gia ñình họ. + Lưới thứ hai, là bảo vệ cho ñối tượng ñược ưu tiên.
+ Lưới thứ ba, là che chắn, bảo vệ cho mọi thành viên trong xã hội Việc chia ra các lưới an sinh xã hội là rất cần thiết, vì nó liên quan ñến rất nhiều vấn ñề khi ban hành chính sách cũng như tổ chức thực hiện chính sách. Theo quy luật chung thì lưới thứ nhất ngày càng ñược mở rộng và lưới thứ ba có ñối tượng ngày càng bị thu hẹp, từ ñó làm cho hệ thống an sinh xã hội ở các nước ngày càng vững mạnh. - An sinh xã hội thể hiện chủ nhĩa nhân ñạo và nhân văn cao ñẹp của con người trong mọi thời ñại. Mỗi cá nhân trong cộng ñồng xã hội dù có ñịa vị xã hội sang hèn khác nhau nhưng ñều có một giá trị xã hội nằm trong cả hệ thống giá trị xã hội.
Họ phải ñược ñảm bảo mọi mặt cả tinh thần lẫn vật chất tối thiểu ñể sống và phát huy hết khả năng của mình cho những giá trị cao ñẹp của xã hội. Một khi gặp rủi ro, bất hạnh, xã hội phải tạo cho họ những lực ñẩy cần thiết ñể họ khắc phục và vươn lên. Từ ñó, kích thích tính tích cực của họ, giúp họ phấn ñấu hướng tới những chuẩn mực của chân – thiện – mỹ.