Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ hiện có 25 trường tiểu học với 100% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn (trong đó 85% đạt trình độ trên chuẩn), cùng 55 trên tổng số 75 trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia. Trong bối cảnh ngành giáo dục bắt đầu triển khai thí điểm mô hình trường học mới (VNEN) từ năm học 2012-2013, công tác quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn tại các trường tiểu học đứng trước yêu cầu đổi mới căn bản về phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp. Tổ chuyên môn giữ vị trí hạt nhân trong cơ cấu tổ chức nhà trường, nơi trực tiếp hiện thực hóa các chủ trương chuyên môn và quyết định chất lượng giáo dục.

Tuy nhiên, thực tế quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn tại địa phương còn bộc lộ nhiều hạn chế mang tính hình thức. Nhận thức của một bộ phận cán bộ quản lý và giáo viên về 4 chức năng quản trị còn mờ nhạt, nội dung sinh hoạt chưa thoát khỏi lối mòn hành chính sự vụ. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát toàn diện thực trạng quản lý và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN tại 20 trường tiểu học trên địa bàn thành phố Việt Trì.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào công tác quản lý của hiệu trưởng đối với sinh hoạt tổ chuyên môn trong giai đoạn thí điểm và mở rộng mô hình VNEN (2012-2015). Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ thực tiễn vững chắc với 85,8% cán bộ quản lý và giáo viên khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của tổ chuyên môn, đồng thời mở ra khung giải pháp chuẩn hóa nhằm tối ưu hóa hiệu suất làm việc của 100% tổ chuyên môn tiểu học trên địa bàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đề tài vận dụng hệ thống lý thuyết quản lý giáo dục hiện đại, trọng tâm là lý thuyết quản lý theo chức năng của tác giả Trần Kiểm, bao gồm 4 khâu cốt lõi: kế hoạch hóa, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá. Bên cạnh đó, đề tài kết hợp mô hình Quản lý chất lượng tổng thể (TQM - Total Quality Management) trong giáo dục, xem cấp tiểu học là đơn vị cung ứng nền tảng tri thức, phẩm chất cho các cấp học tiếp theo, trong đó tổ chuyên môn là mắt xích trực tiếp vận hành quy trình tạo ra chất lượng.

Mô hình trường học mới (VNEN), có nguồn gốc từ Colombia (giai đoạn 1995-2000), được áp dụng với nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm, chuyển đổi vai trò của giáo viên từ truyền thụ một chiều sang tổ chức, hướng dẫn và giám sát hoạt động tự học nhóm. Trong khuôn khổ đó, đề tài làm rõ các khái niệm then chốt:

  • Quản lý giáo dục: Sự tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhằm huy động tối ưu các nguồn lực để đạt mục tiêu giáo dục.
  • Tổ chuyên môn: Đơn vị cơ sở của trường tiểu học theo Điều 18 Thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT, có ít nhất 3 thành viên, thực hiện nhiệm vụ xây dựng kế hoạch dạy học, bồi dưỡng chuyên môn và đánh giá giáo viên.
  • Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN: Quá trình hiệu trưởng định hướng, chỉ đạo và kiểm soát các buổi sinh hoạt định kỳ 2 tuần một lần nhằm đổi mới phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu gồm 360 khách thể khảo sát, bao gồm 60 cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng, Tổ phó chuyên môn) và 300 giáo viên đang trực tiếp giảng dạy tại 20 trường tiểu học thuộc thành phố Việt Trì. Phương pháp chọn mẫu phân tầng đại diện được áp dụng trên cả 15 trường nội thành và 5 trường ngoại thành nhằm phản ánh chân thực đặc điểm địa bàn.

Quy trình nghiên cứu kết hợp nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận (phân tích, tổng hợp văn bản pháp quy như Luật Giáo dục 2005, Chỉ thị số 40-CT/TW, Điều lệ trường Tiểu học) và nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn (điều tra bảng hỏi cấu trúc theo thang đo Likert 3 mức độ, phỏng vấn sâu, quan sát sinh hoạt chuyên môn, tổng kết kinh nghiệm). Dữ liệu thu thập trong năm học 2014-2015 được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học, tính điểm trung bình và xác định hệ số tương quan thứ bậc Spearman để kiểm định mối quan hệ giữa nhận thức và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý. Việc lựa chọn hệ số Spearman giúp đo lường chính xác độ tương thích thứ bậc giữa hai thang đo định lượng trong môi trường quản lý giáo dục.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tiễn tại 20 trường tiểu học mang lại những phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, nhận thức về vị trí của tổ chuyên môn đạt mức đồng thuận rất cao. Có 85,8% ý kiến (85% cán bộ quản lý và 86% giáo viên) khẳng định tổ chuyên môn giữ vị trí rất quan trọng, 14,2% đánh giá ở mức quan trọng và không có ý kiến nào đánh giá không quan trọng. Đặc biệt, 100% khách thể (360/360 người) đồng thuận tuyệt đối rằng tổ chuyên môn là đơn vị cơ sở nền tảng để triển khai hoạt động chuyên môn và là môi trường bồi dưỡng năng lực giáo viên hiệu quả nhất. Đồng thời, 100% các trường duy trì nghiêm túc chế độ sinh hoạt định kỳ 2 tuần một lần theo Điều lệ trường Tiểu học.

Thứ hai, mức độ thực hiện các nhiệm vụ của tổ chuyên môn đạt điểm trung bình chung là 2,33 trên thang điểm 3,00 (cán bộ quản lý đạt 2,33; giáo viên đạt 2,32). Trong đó, có 3 trên 5 nhiệm vụ đạt mức tốt (điểm trung bình từ 2,50 trở lên), cao nhất là tham gia kiểm tra đánh giá chất lượng dạy học (2,63 điểm). Tuy nhiên, nhiệm vụ bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên lại xếp cuối cùng với điểm số rất thấp là 1,50 trên 3,00.

Thứ ba, tồn tại khoảng cách lớn giữa nhận thức về tầm quan trọng và mức độ thực thi 7 biện pháp quản lý của hiệu trưởng. Điểm trung bình nhận thức về mức độ quan trọng đạt tới 2,91 trên 3,00 (100% biện pháp đều đạt trên 2,80 điểm), trong đó biện pháp quản lý lập kế hoạch của tổ đạt điểm tuyệt đối 3,00. Ngược lại, điểm trung bình mức độ thực hiện thực tế chỉ đạt 2,07 trên 3,00 (tất cả 7 biện pháp đều dưới 2,50 điểm).

Thứ tư, biện pháp được thực hiện tốt nhất là quản lý phân công chuyên môn và bổ nhiệm tổ trưởng (đạt 2,27 điểm), trong khi biện pháp quản lý nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn bị đánh giá thấp nhất (chỉ đạt 1,93 điểm). Đáng chú ý, việc thống nhất nội dung sinh hoạt hàng tuần với tổ trưởng chỉ đạt 1,68 điểm và tần suất hiệu trưởng trực tiếp dự sinh hoạt tổ chỉ đạt 1,86 điểm.

Thảo luận kết quả

Hệ số tương quan thứ bậc Spearman giữa mức độ nhận thức tầm quan trọng và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý chỉ đạt R = 0,11. Chỉ số này chứng minh mối tương quan thuận nhưng rất lỏng lẻo, phản ánh sự bất cập rõ nét: cán bộ quản lý và giáo viên đều ý thức sâu sắc vai trò của các biện pháp quản lý, nhưng khâu triển khai thực tế lại chưa theo kịp nhận thức lý luận.

Nguyên nhân chính xuất phát từ việc nhiều hiệu trưởng vẫn quen điều hành theo kinh nghiệm truyền thống, chưa áp dụng triệt để quy trình khoa học quản lý 4 chức năng. Áp lực công việc hành chính khiến hiệu trưởng ít có thời gian dự giờ, tư vấn chuyên môn sâu cho từng khối lớp theo mô hình VNEN. Mặt khác, khi bổ nhiệm tổ trưởng chuyên môn, các trường chủ yếu căn cứ vào chuyên môn giỏi (2,94 điểm) và năng lực tập hợp (3,00 điểm) mà chưa chú trọng bồi dưỡng năng lực quản lý điều hành (tiêu chí khả năng hợp tác với hiệu trưởng chỉ đạt 2,35 điểm).

Sự chênh lệch giữa nhận thức và thực hiện có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột kép so sánh 7 biện pháp quản lý: cột điểm nhận thức luôn duy trì ở mức trần tiệm cận 3,00 điểm (từ 2,83 đến 3,00), trong khi cột điểm thực hiện sụt giảm mạnh xuống vùng trung bình (từ 1,93 đến 2,27). Kết quả này hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu quản lý giáo dục phổ thông tại Hải Phòng và Thái Nguyên giai đoạn trước, đồng thời nhấn mạnh thêm rào cản đặc thù khi giáo viên phải chuyển đổi sang kỹ thuật giảng dạy nhóm của mô hình VNEN.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực trạng, 4 nhóm giải pháp quản lý đồng bộ được đề xuất nhằm nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn:

  1. Đổi mới quy trình lập kế hoạch sinh hoạt tổ chuyên môn theo chuẩn mô hình VNEN: Hiệu trưởng trực tiếp chỉ đạo, thống nhất lịch trình và duyệt kế hoạch chuyên môn ngay từ tháng 8 đầu năm học. Mục tiêu 100% tổ chuyên môn xây dựng được kế hoạch sinh hoạt định kỳ chi tiết theo từng chuyên đề dạy học nhóm, giảm thiểu các nội dung hành chính vụn vặt.

  2. Chuẩn hóa công tác phân công chuyên môn và bồi dưỡng năng lực quản lý cho tổ trưởng: Thực hiện phân công giáo viên giảng dạy ổn định 2 đến 3 năm tại một khối lớp (hình thức được đánh giá tối ưu nhất với 2,71 điểm). Phòng Giáo dục và Đào tạo phối hợp với nhà trường tổ chức 100% các lớp bồi dưỡng kỹ năng quản trị, kỹ năng điều hành sinh hoạt học thuật cho đội ngũ tổ trưởng, tổ phó trước khi bước vào năm học mới.

  3. Nâng cấp chất lượng nội dung và đa dạng hóa hình thức sinh hoạt chuyên môn: Chuyển trọng tâm sinh hoạt từ phổ biến văn bản sang nghiên cứu bài học, phân tích video tiết dạy VNEN và tháo gỡ khó khăn về phương pháp tự quản của học sinh. Thiết lập mô hình sinh hoạt chuyên môn liên trường, cụm trường định kỳ 1 lần mỗi học kỳ với sự tham gia của 10 đến 20 giáo viên cốt cán để chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn.

  4. Tăng cường kiểm tra, đánh giá đa chiều và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý: Ban giám hiệu phân công lịch dự sinh hoạt tổ chuyên môn luân phiên tối thiểu 1 lần mỗi tháng cho mỗi tổ; thực hiện kiểm tra chéo hồ sơ giáo viên. Đẩy mạnh trang bị máy tính, phần mềm quản trị và mạng nội bộ tại 25 trường tiểu học để số hóa 100% kế hoạch bài dạy, tài liệu bồi dưỡng và biên bản sinh hoạt chuyên môn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng các trường tiểu học: Tài liệu cung cấp khung tham chiếu hoàn chỉnh về 4 chức năng quản trị, giúp người quản lý chuẩn hóa quy trình lập kế hoạch, phân công giáo viên khoa học và khắc phục triệt để tình trạng buông lỏng kiểm tra nội dung sinh hoạt tổ.

  2. Đội ngũ Tổ trưởng và Tổ phó chuyên môn: Luận văn là cẩm nang nghiệp vụ giúp chuyển đổi hình thức sinh hoạt tổ từ hành chính đối phó sang sinh hoạt chuyên đề thực chất, nâng cao năng lực điều hành và bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên trong tổ đạt chuẩn trên 90%.

  3. Cán bộ quản lý, chuyên viên Phòng và Sở Giáo dục và Đào tạo: Cung cấp bức tranh thực tiễn sinh động cùng bộ số liệu khảo sát từ 360 cán bộ, giáo viên tại 20 trường học, làm căn cứ hoạch định chính sách bồi dưỡng đội ngũ và nhân rộng các mô hình dạy học mới trên địa bàn toàn tỉnh.

  4. Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục: Nguồn tài liệu học thuật giá trị về phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng, cung cấp hệ thống bảng hỏi chuẩn hóa và cách thức ứng dụng hệ số tương quan Spearman trong phân tích thực trạng quản lý trường học.

Câu hỏi thường gặp

Sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình VNEN có điểm gì khác biệt cốt lõi so với mô hình truyền thống? Sinh hoạt chuyên môn theo mô hình VNEN chuyển trọng tâm từ việc nhận xét giáo viên giảng dạy sang quan sát và phân tích hoạt động học tập tự giác của học sinh trong các nhóm. Giáo viên không còn thao tác mẫu cứng nhắc mà tập trung chia sẻ giải pháp giám sát, hỗ trợ học sinh tự học và đánh giá quá trình.

Khoảng cách lớn nhất trong thực trạng quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn tại thành phố Việt Trì hiện nay là gì? Đó là khoảng cách giữa nhận thức và hành động thực tế. Điểm nhận thức về tầm quan trọng của 7 biện pháp quản lý đạt mức rất cao (2,91 trên 3,00), nhưng điểm thực hiện thực tế chỉ đạt mức trung bình hạn chế (2,07 trên 3,00), thể hiện qua hệ số tương quan Spearman rất thấp là R = 0,11.

Nhiệm vụ nào của tổ chuyên môn đang bị đánh giá thực hiện thấp nhất tại các trường tiểu học? Nhiệm vụ bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên bị đánh giá thấp nhất trong số 5 nhiệm vụ chính của tổ chuyên môn, chỉ đạt điểm trung bình 1,50 trên 3,00. Điều này cho thấy các buổi sinh hoạt tổ hiện nay còn nặng về kiểm tra giáo án, hành chính hơn là phát triển năng lực nghề nghiệp.

Tiêu chí nào được đánh giá quan trọng nhất khi bổ nhiệm Tổ trưởng chuyên môn? Kết quả khảo sát chỉ ra rằng khả năng tập hợp, điều khiển, tổ chức hoạt động tốt được đánh giá quan trọng nhất với điểm tuyệt đối 3,00 trên 3,00, tiếp theo là tiêu chí chuyên môn giỏi với 2,94 điểm và phẩm chất đạo đức với 2,66 điểm.

Hình thức phân công giảng dạy nào được giáo viên và cán bộ quản lý đánh giá hiệu quả nhất? Hình thức phân công giáo viên dạy ổn định 2 đến 3 năm ở một khối lớp được đánh giá tối ưu và cần thiết nhất với điểm trung bình 2,71 trên 3,00, vượt trội so với hình thức thay đổi lớp hàng năm (chỉ đạt 2,48 điểm).

Kết luận

  • Tổ chuyên môn được 100% cán bộ quản lý và giáo viên khẳng định là nền tảng cốt lõi quyết định trực tiếp chất lượng giáo dục tiểu học và là trung tâm bồi dưỡng sư phạm tại chỗ.
  • Khảo sát 360 khách thể tại 20 trường tiểu học đã chỉ ra sự chênh lệch rõ nét giữa nhận thức lý luận (2,91 trên 3,00) và hiệu quả thực thi (2,07 trên 3,00) trong 7 biện pháp quản trị của hiệu trưởng.
  • Nhiệm vụ bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên (1,50 điểm) và biện pháp quản lý nội dung sinh hoạt định kỳ (1,93 điểm) là hai điểm nghẽn lớn nhất cần ưu tiên tháo gỡ.
  • Đề tài đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn liền với chu trình 4 chức năng quản lý, phân cấp quyền hạn rõ ràng cho tổ trưởng và đẩy mạnh sinh hoạt chuyên môn cụm trường.
  • Lộ trình triển khai khuyến nghị cần tập trung chuẩn hóa 100% quy trình điều hành sinh hoạt tổ chuyên môn và ứng dụng công nghệ thông tin trong năm học tiếp theo.

Các cấp quản lý giáo dục, ban giám hiệu nhà trường và cán bộ nghiên cứu có thể khai thác toàn bộ hệ thống dữ liệu, thang đo và giải pháp trong luận văn để chuẩn hóa hoạt động chuyên môn, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục tiểu học hiện nay.