Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm việc làm Việc làm là vấn đề được nghiên cứu và đề cập dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về việc làm cũng được nhìn nhận một cách khoa học, đầy đủ và đúng đắn hơn.
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra quan niệm : Người có việc làm là người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc những người tham gia các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không nhận được tiền công hay hiện vật Ở Việt Nam, quan niệm về việc làm được quy định trong Bộ luật lao động sửa đổi bổ sung năm (2012) [17]. Tại Điều 9, Chương II, Bộ luật Lao động quy định “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Như vậy việc làm được hiểu đầy đủ như sau: “Việc làm là hoạt động lao động của con người nhằm mục đích tạo ra thu nhập đối với cá nhân, gia đình hoặc lợi ích cho bản thân gia đình không bị pháp luật cấm, bao gồm: Những người làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật (gọi là việc làm có trả công). Những người làm các công việc tự làm hoặc các công việc gia đình để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc tạo ra thu nhập cho gia đình nhưng không được trả công bằng hiện vật cho công việc đó (gọi là việc làm không được trả công).
Việc làm gồm có việc làm chính thức và việc làm phi chính thức: Việc làm chính thức là công việc chính mang lại thu nhập chính và những thu nhập về của cải vật chất cho bản thân và gia đình. 12 Việc làm phi chính thức là những công việc làm thêm ngoài công việc chính. Chẳng hạn đối với những người nông dân, việc chính của họ là sản xuất nông nghiệp trong mùa vụ, còn việc làm không chính thức là những việc làm trong lúc nông nhàn. Khái niệm hành vi tìm kiếm việc làm Để hiểu khái niệm hành vi tìm kiếm việc làm, trước tiên cần điểm qua các luận điểm xoay quanh khái niệm hành vi, Marx Weber cho rằng “hành vi xã hội là điểm xuất phát của mọi quá trình xã hội”.
Theo Parson “hành vi cá nhân tuyệt nhiên không phải sản phẩm của một sự tùy tiện hay một sự tự do tuyệt đối. nó diễn ra trong quá trình xã hội hóa nhưng không phải hệ quả máy móc của xã hội hóa, nó còn dựa vào những ý định động cơ của chủ thể hành vi, cũng như vào những phương tiện hành vi của chủ thể” “hành vi cá nhân đều bao hàm những yếu tố bất biến của những bối cảnh văn hóa. Quan điểm của Homans về hành vi lựa chọn duy lý cho rằng “con người là một chủ thể duy lý trong việc xem xét và lựa chọn hành động nào để đem lại phần thưởng lớn nhất và có giá trị nhất…giá trị của kết quả, giá trị của phần thưởng và cả sự mong đợi của mỗi cá nhân bắt nguồn từ hệ chuẩn mực xã hội, từ phong tục, tập quán, truyền thống. Theo từ điển Xã hội học của G.
Trommsdorff đã tổng hợp các giả thuyết về những quy luật chung của hành vi, trong đó khẳng định “ Những phương thức hành vi đã học thuộc, đã chứng tỏ có lợi, sẽ trở thành thói quen vì lý do giảm trách nhiệm năng lực nhận thức, tránh áp lực quyết định quá lớn”. Những hành vi thường xuyên được hình thành qua các quá trình trao đổi, sẽ chuyển thành cơ cấu và thể chế xã hội. Các biến số tác động đến hành vi: (1) Mong đợi - hành vi của cá nhân phụ thuộc vào những điều mong đợi nhất định đã học được; (2) Các quá trình so sánh - sự đánh giá cái được và cái mất phụ thuộc vào việc so sánh với những sự kiện 13 tương tự từng xảy ra; (3) Cơ cấu năng lực nhận thức - cá nhân có xu hướng hành vi đạt đến sự cân bằng, giảm sự không hài hòa về nhận thức - cá nhân; (4) Ảnh hưởng của hệ thống giá trị đặc trưng văn hóa - hành vi cá nhân chịu sự chi phối bởi các giá trị văn hóa nhóm, cộng đồng anh ta tiếp thu trong quá trình xã hội hóa của mình [29,tr. Hành vi tìm kiếm việc làm là quá trình lựa chọn việc làm hợp lý, với sự vận dụng linh hoạt những nguồn lực sinh kế đang biến đổi và chuyển hóa, trong bối cảnh tác động phức tạp, đan xen của các yếu tố thị trường và thể chế.
Hành vi tìm kiếm việc làm bao gồm tìm kiếm thông tin việc làm, lựa chọn việc làm hợp lý của các thành viên phù hợp với vận dụng nguồn lực sinh kế gia đình đang biến đổi và chuyển hóa, đa dạng hóa nguồn thu nhập (việc làm chính, việc làm phụ của các thành viên, chuyển đổi/bổ xung hoạt động sản xuất, kinh doanh…), chuyển đổi việc làm, đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện sản xuất kinh doanh (mua bán/thuê, xây dựng/cải tạo nhà cửa, nhà xưởng, đất đai, máy móc, phương tiện vận chuyển…), đào tạo, thôi việc, tự tạo việc làm, liên kết, phân công lại lao động gia đình/chuyển đổi chức năng các thành viên gia đình. Hành vi tìm kiếm việc làm là hành vi xã hội ở đây được hiểu như một quá trình xã hội, quá trình này bắt đầu từ thời điểm hộ gia đình tìm kiếm việc làm cho các thành viên đến khi họ tìm được công việc ổn định đảm bảo cuộc sống. Quá trình tìm kiếm việc làm này gắn với sự xuất hiện nhu cầu có được một công việc của hộ gia đình có chủ động tìm kiếm hay không chủ động tìm kiếm việc làm nhưng họ sẵn sàng tiếp nhận một công việc cho bản thân. Quá tìm kiếm việc làm của hộ gia đình gắn với các đặc điểm như chi phí tìm kiếm, thời gian tìm kiếm, sự thuận lợi, khó khăn.
Đây cũng chính là các chỉ báo sẽ được quan tâm đo lường trong quá trình thu thập các dữ liệu thực nghiệm. Tương tự như các hành vi xã hội khác, hành vi tìm kiếm việc làm của hộ gia 14 đình cũng là một quá trình xã hội hóa trong đó có các giá trị gắn với các công việc trong thị trường lao động họ đã tiếp nhận được. Tìm kiếm việc làm cũng là một quá trình so sánh, cân nhắc phối hợp của các yếu tố định hướng giá trị của nhóm, cộng đồng cũng như các giá trị văn hóa khác nhau. Khái niệm gia đình Theo Từ điển Xã hội học (2010)[32] “Gia đình là một nhóm thuộc loại đặc biệt vì nó biểu hiện một loại cấu trúc vai trò nhất định (bố/mẹ/con gái/con trai/cháu/em…), với nó thì sự khác biệt về giới tính và thế hệ là tiêu chí của cơ cấu gia đình (một hay đa thế hệ; nam/nữ) và qua nó sẽ chuyển hóa một quan hệ hợp tác và doàn kết rất đặc biệt mà ở tất cả các xã hội đều tổ chức theo nghi lễ sự thành lập của nó.
Ngoài ra xã hội cũng trao cho nhóm đặc biệt này những chức năng rất đặc biệt. Khi nhìn vào lịch sử và so sánh các nền văn hóa sẽ thấy ngay là các chức năng gia đình có thể thay đổi như thế nào. Nhưng ở đâu thì gia đình ít ra cũng có chức năng tái sinh về mặt sinh học và xã hội. Theo Luật hôn nhân và gia đình (2014)[16 ]: Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định.
Gia đình là chủ thể của quan hệ dân sự khi các thành viên của một gia đình có tài sản chung để hoạt động kinh tế chung trong quan hệ sử dụng đất, trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và trong một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định. Theo cách hiểu khác thì hộ gia đình hay còn gọi đơn giản hộ là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung và ăn chung (nhân khẩu). Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung. Hộ gia đình không 15 đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhận hoặc cả hai.
Khái niệm thu hồi đất Theo quy định tại khoản 11, Điều 3 Luật đất đai năm 2013 quy định. Thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai. Thu hồi đất ở đây được hiểu dưới các khía cạnh dưới khác nhau: Như thu hồi đất là quyết định hành chính của người có thẩm quyền nhằm chấm dứt quan hệ sử dụng đất của người sử dụng đất. Việc thu hồi đất được sử dụng với các mục đích khác nhau: Thu hồi do nhu cầu của Nhà nước; thu hồi vì các lý do đương nhiên và thu hồi do vi phạm pháp luật đất đai.
Trong luận văn này khái niệm thu hồi đất được sử dụng là do quá trình CNH - HĐH đất nước, Nhà nước với tư cách là chủ đầu tư lớn nhất có nhiệm vụ xây dựng các cơ sở hạ tầng, các công trình công cộng…cùng với các chủ đầu tư khác có nhu cầu sử dụng lại do những tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang có quyền sử dụng do được giao đất, thuê đất, do nhận chuyển quyền sử dụng đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất. Do vậy, vì lợi ích phát triển kinh tế xã hội những hộ đang sử dụng đất phải chấp hành quyết định thu hồi đất của Nhà nước. Lý thuyết lựa chọn hợp lý/duy lý Trong các nội dung thao tác hóa khái niệm đã đề cập đến khái niệm hành vi tìm kiếm việc làm, theo đó hành vi tìm kiếm việc làm của hộ gia đình bị thu hồi đất là một hành vi lựa chọn mang tính hợp lý, là kết quả của một quá trình cân nhắc, tìm hiểu, tích lũy kinh nghiệm, cân nhắc giữa chi phí và 16 kết quả cũng như chịu sự tác động chi phối của các định hướng giá trị cá nhân và đồng thời các chuẩn mực cá nhân, chuẩn mực xã hội. George Homans (1910-1989) là nhà xã hội học người Mỹ, một trong các tác giả nổi tiếng của lý thuyết trao đổi xã hội.