Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa tại Việt Nam thúc đẩy việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất trên diện rộng. Việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp và công trình công cộng đã tác động trực tiếp đến sinh kế của người nông dân. Nông nghiệp vốn là lĩnh vực giải quyết việc làm truyền thống cho lao động nông thôn, do đó khi tư liệu sản xuất bị thu hẹp, tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp thời vụ và áp lực chuyển đổi sinh kế trở thành vấn đề cấp bách đối với sự ổn định kinh tế - xã hội ở cấp địa phương.
Xã Phúc Lộc là một xã thuần nông nằm ở vùng thấp ven sông Hồng thuộc thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Tháng 10 năm 2011, địa phương triển khai công tác thu hồi đất quy mô lớn với tổng diện tích 129,97 ha để xây dựng các công trình phúc lợi xã hội bao gồm trường học, bệnh viện lao và bệnh viện 500 giường. Việc thu hồi đất tác động trực tiếp đến 256 hộ dân (chiếm 46,8% tổng số hộ toàn xã). Khác với các dự án thu hồi đất phát triển khu công nghiệp vốn có khả năng tiếp nhận lao động tại chỗ vào làm công nhân, việc xây dựng công trình phúc lợi không tự động tạo ra việc làm phi nông nghiệp cho người dân mất đất. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu phải đánh giá toàn diện thực trạng và tìm kiếm giải pháp giải quyết việc làm, ổn định thu nhập cho lao động nông thôn.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu chung: Tìm hiểu thực trạng việc làm của người lao động nông thôn trong độ tuổi từ 15 đến 60 tại xã Phúc Lộc; từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm, tạo điều kiện ổn định đời sống và nâng cao thu nhập cho người lao động sau khi bị thu hồi đất.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá thực trạng lao động thông qua tình hình việc làm và công tác giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn tại xã Phúc Lộc, thành phố Yên Bái sau khi bị thu hồi đất.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả các chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm và cải thiện thu nhập cho người lao động nông thôn trên địa bàn nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Lao động nông thôn trong độ tuổi từ 15 đến 60 thuộc các hộ nông dân bị thu hồi đất tại xã Phúc Lộc, thành phố Yên Bái.
- Phạm vi không gian: Địa bàn xã Phúc Lộc, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái (khảo sát chi tiết tại các thôn 1, thôn 2 và thôn 3).
- Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 01/2014 đến tháng 05/2014. Nguồn số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2011 - 2013; nguồn số liệu sơ cấp điều tra từ các hộ gia đình được thu thập cho năm 2013.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và văn bản pháp lý
Khóa luận hệ thống hóa các khái niệm nền tảng trong kinh tế học lao động và pháp luật đất đai:
- Lao động và thị trường lao động: Lao động là yếu tố sản xuất đặc biệt, hàng hóa dịch vụ lao động được trao đổi trên thị trường lao động thông qua mức tiền công thực tế. Nguồn lao động được phân loại theo trình độ đào tạo văn hóa (chưa tốt nghiệp cấp I, tốt nghiệp cấp I, cấp II, cấp III) và trình độ chuyên môn (chưa qua đào tạo, sơ cấp/công nhân kỹ thuật, trung cấp, cao đẳng/đại học, trên đại học).
- Việc làm, thất nghiệp và thiếu việc làm: Căn cứ Điều 13 Bộ luật Lao động năm 1994, việc làm là mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập không bị pháp luật cấm. Việc làm được phân loại theo thời gian đầu tư (việc làm chính, việc làm phụ) và mức độ hiệu quả (việc làm đầy đủ, việc làm hiệu quả). Thất nghiệp và thiếu việc làm được xác định dựa trên tiêu chí của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đối với người từ đủ 15 tuổi trở lên.
- Thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ tái định cư: Căn cứ Điều 4 và Điều 42 Luật Đất đai năm 2003, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 và Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ. Đồng thời, tác giả điểm lại lịch sử chính sách qua Luật Đất đai 1987, 1993, các Nghị định số 64/CP, 02/CP, 01/CP.
- Cơ sở thực tiễn: Đề tài tổng hợp bài học kinh nghiệm quốc tế về giải quyết đất đai và việc làm tại Hàn Quốc (chính sách căn hộ tái định cư), Đài Loan (phát triển xí nghiệp gia tộc, đa dạng hóa trang trại phi nông nghiệp), Thái Lan (mô hình liên kết tam giác Nhà nước - Công ty - Hộ gia đình); cùng kinh nghiệm thực tế tại Hà Nội, Mê Linh, Hải Dương, Lạc Thủy (Hòa Bình) và Hải Phòng.
Phương pháp nghiên cứu và hệ thống chỉ tiêu
- Phương pháp chọn mẫu điều tra: Toàn xã có 256 hộ bị thu hồi đất thuộc 3 thôn (thôn 1, thôn 2, thôn 3). Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng để chọn ra 60 hộ điều tra thực tế, chia làm 2 nhóm:
- Nhóm I (40 hộ điều tra / 170 hộ thực tế): Các hộ chỉ bị thu hồi diện tích đất nông nghiệp (gồm nhóm mất <50% và nhóm mất >50% diện tích đất nông nghiệp).
- Nhóm II (20 hộ điều tra / 86 hộ thực tế): Các hộ bị thu hồi bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất thổ cư.
- Phương pháp thu thập thông tin:
- Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo kinh tế - xã hội, niên giám thống kê của UBND và Ban Địa chính xã Phúc Lộc giai đoạn 2011 - 2013.
- Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát trực tiếp 60 hộ dân qua phiếu điều tra có cấu trúc kết hợp câu hỏi mở về việc làm, thu nhập và sử dụng tiền đền bù.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của Chủ tịch HĐND xã, Phó Bí thư Đảng ủy xã, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, Bí thư chi bộ, cán bộ Địa chính - Kinh tế, Ban Giải phóng mặt bằng và Trưởng thôn.
- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Số liệu được nhập và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel (Sort & Filter 2010). Sử dụng phương pháp thống kê mô tả (tính toán số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, tỷ trọng cơ cấu) và phương pháp so sánh chuỗi thời gian, so sánh trạng thái trước và sau khi thu hồi đất.
- Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu: Chỉ tiêu biến động đất đai; chỉ tiêu quy mô và cơ cấu lao động (ngành nghề, trình độ, giới tính); chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh; chỉ tiêu việc làm và thu nhập bình quân (tổng thu nhập/hộ, thu nhập bình quân theo ngành).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương này tổng quan cơ sở lý luận về lao động nông thôn, phân loại việc làm, các khái niệm thất nghiệp và giải quyết việc làm. Tác giả phân tích khung pháp lý về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ chuyển đổi nghề theo Luật Đất đai và các nghị định liên quan. Ngoài ra, chương 1 phân tích các tác động hai mặt (tích cực về hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu; tiêu cực về mất nguồn sinh kế truyền thống, nguy cơ thất nghiệp) và tổng kết các bài học kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia châu Á (Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan) và các địa phương trong nước (Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hòa Bình) để rút ra bài học cho xã Phúc Lộc.
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày khung thiết kế nghiên cứu của khóa luận. Tác giả xác định đối tượng khảo sát là lao động nông thôn từ 15 đến 60 tuổi của các hộ mất đất tại xã Phúc Lộc trong phạm vi thời gian 2011 - 2014. Chương này mô tả chi tiết phương pháp chọn mẫu phân tầng 60 hộ (40 hộ mất đất nông nghiệp thuần túy, 20 hộ mất nhiều loại đất), thiết kế phiếu phỏng vấn hộ gia đình, quy trình tham vấn chuyên gia cơ sở, công cụ xử lý dữ liệu Excel và hệ thống hóa 4 nhóm chỉ tiêu phân tích kinh tế - xã hội.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 tập trung phân tích điều kiện tự nhiên, tài nguyên đất - nước và tình hình kinh tế - xã hội của xã Phúc Lộc giai đoạn 2011 - 2013. Tác giả trình bày chi tiết thực trạng biến động sử dụng đất toàn xã, quy mô thu hồi đất phục vụ công trình phúc lợi (129,97 ha), và phân tích dữ liệu khảo sát 60 hộ về: đặc điểm nhân khẩu, độ tuổi, trình độ văn hóa, tay nghề chuyên môn, biến động việc làm, sự thay đổi cơ cấu ngành nghề, chuyển dịch thu nhập, tình hình sử dụng tiền bồi thường và đánh giá hiệu quả của các chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm tại địa phương.
Chương 4: Các giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn bị thu hồi đất tại xã Phúc Lộc - TP. Yên Bái - tỉnh Yên Bái
Dựa trên các phân tích thực trạng, chương 4 xác định quan điểm, phương hướng và mục tiêu tạo việc làm đến giai đoạn tiếp theo. Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp toàn diện bao gồm: nhóm giải pháp chung về thể chế - chính sách; nhóm giải pháp định hướng theo nhóm tuổi (đào tạo nghề cho lao động trẻ, khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống miến Đao cho lao động lớn tuổi); các kiến nghị phân cấp trách nhiệm cụ thể đối với Nhà nước, chính quyền địa phương xã Phúc Lộc và bản thân các hộ nông dân bị thu hồi đất.
Kết quả nghiên cứu và đóng góp
1. Thực trạng biến động đất đai xã Phúc Lộc giai đoạn 2011 - 2013
Trong giai đoạn 2011 - 2013, tổng diện tích tự nhiên của xã giữ nguyên ở mức 579,85 ha nhưng cơ cấu sử dụng đất có sự thay đổi rõ rệt do việc thu hồi đất xây dựng trường học, bệnh viện lao và bệnh viện 500 giường:
| Loại đất |
Năm 2011 (ha) |
Cơ cấu (%) |
Năm 2012 (ha) |
Cơ cấu (%) |
Năm 2013 (ha) |
Cơ cấu (%) |
So sánh 2013/2011 (%) |
| Tổng diện tích đất tự nhiên |
579,85 |
100,00 |
579,85 |
100,00 |
579,85 |
100,00 |
100,00 |
| 1. Đất nông nghiệp |
112,31 |
19,37 |
51,48 |
8,88 |
20,10 |
3,47 |
17,90 |
| - Đất trồng cây hàng năm |
95,12 |
84,69 |
33,76 |
65,58 |
15,20 |
75,62 |
15,98 |
| - Đất trồng cây hàng năm khác |
10,62 |
11,16 |
8,24 |
24,41 |
4,00 |
46,51 |
37,66 |
| - Đất trồng cây lâu năm |
14,69 |
13,08 |
15,62 |
30,34 |
3,70 |
18,41 |
25,19 |
| - Đất nuôi trồng thủy sản |
2,50 |
2,23 |
2,10 |
4,08 |
1,20 |
5,97 |
48,00 |
| 2. Đất lâm nghiệp |
187,50 |
32,34 |
158,92 |
27,41 |
151,64 |
26,15 |
80,87 |
| 3. Đất phi nông nghiệp |
280,04 |
48,29 |
369,45 |
63,71 |
413,18 |
71,26 |
147,54 |
| - Đất chuyên dùng |
104,50 |
37,32 |
178,23 |
48,24 |
215,75 |
52,22 |
206,46 |
| - Đất phi nông nghiệp khác |
166,84 |
59,58 |
183,72 |
49,73 |
190,63 |
46,14 |
114,26 |
| Chỉ tiêu bình quân: |
|
|
|
|
|
|
|
| - Đất NN bình quân / khẩu NN (ha) |
0,09 |
- |
0,04 |
- |
0,02 |
- |
22,22 |
| - Đất NN bình quân / hộ NN (ha) |
0,30 |
- |
0,14 |
- |
0,06 |
- |
20,00 |
| - Đất NN bình quân / lao động NN (ha) |
0,12 |
- |
0,06 |
- |
0,03 |
- |
25,00 |
Quy mô thu hồi đất tại 3 thôn (theo số liệu Ban Thống kê xã Phúc Lộc):
- Đất nông nghiệp bị thu hồi: 92,21 ha (chiếm 82,1% tổng quỹ đất nông nghiệp toàn xã), tập trung cao nhất ở thôn 1 (60,58 ha, chiếm 65,7% diện tích thu hồi), thôn 2 (13,92 ha, chiếm 15,1%), thôn 3 (1,2 ha, chiếm 1,3%). Bình quân thu hồi đạt 0,54 ha/hộ.
- Đất lâm nghiệp bị thu hồi: 36,86 ha (chiếm 19,13% quỹ đất lâm nghiệp), toàn bộ thuộc địa bàn thôn 3. Bình quân thu hồi đạt 0,42 ha/hộ.
- Đất thổ cư bị thu hồi: 1,9 ha (chiếm 21,84% quỹ đất ở), toàn bộ tập trung tại thôn 3. Bình quân thu hồi đạt 0,02 ha/hộ.
2. Tình hình dân số, lao động và kinh tế xã Phúc Lộc
- Dân số và hộ gia đình: Năm 2013, xã có 547 hộ với 1.597 nhân khẩu. Tỷ lệ hộ thuần nông giảm từ 74,05% (368 hộ năm 2011) xuống 65,81% (360 hộ năm 2013). Hộ kiêm tăng từ 93 hộ (18,71%) lên 115 hộ (21,02%); hộ phi nông nghiệp tăng từ 36 hộ (7,24%) lên 72 hộ (13,16%).
- Cơ cấu lao động: Tổng số lao động năm 2013 là 1.138 người. Lao động nông nghiệp giảm từ 901 người (80,45% năm 2011) xuống 705 người (61,95% năm 2013). Lao động phi nông nghiệp tăng từ 219 người (19,55%) lên 433 người (38,05%), đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 41,70%/năm.
- Giá trị sản xuất (theo giá cố định 1994): Tổng giá trị sản xuất toàn xã tăng từ 8,80 tỷ đồng (2011) lên 12,76 tỷ đồng (2012) và đạt 15,07 tỷ đồng (2013), tốc độ tăng bình quân đạt 31,55%/năm. Cơ cấu giá trị sản xuất năm 2013 gồm: nông nghiệp đạt 4,62 tỷ đồng (chiếm 30,66%, giảm từ mức 44,43% năm 2011); công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt 7,25 tỷ đồng (chiếm 48,11%); thương mại - dịch vụ đạt 3,20 tỷ đồng (chiếm 21,23%).
3. Giải pháp và kiến nghị của tác giả
Khóa luận đưa ra các giải pháp phân nhóm đối tượng nhằm giải quyết việc làm sau thu hồi đất:
- Đối với lao động thanh niên: Đẩy mạnh tư vấn hướng nghiệp, mở các lớp dạy nghề ngắn hạn gắn với nhu cầu của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Yên Bái và các tỉnh lân cận; hỗ trợ xuất khẩu lao động và giới thiệu việc làm vào khu vực công nghiệp - dịch vụ.
- Đối với lao động lớn tuổi (khó chuyển đổi nghề): Tập trung phát triển sinh kế tại chỗ thông qua chính sách khôi phục và mở rộng làng nghề truyền thống như sản xuất miến Đao, tiểu thủ công nghiệp và chăn nuôi gia đình; hỗ trợ kỹ thuật thâm canh tăng năng suất trên diện tích đất nông nghiệp còn lại.
- Quản lý và sử dụng nguồn vốn bồi thường: Hướng dẫn các hộ dân sử dụng tiền bồi thường hợp lý vào đầu tư sản xuất kinh doanh, thương mại - dịch vụ nhỏ hoặc gửi tiết kiệm ngân hàng, tránh tình trạng chi tiêu lãng phí, tiêu dùng cá nhân dẫn đến cạn kiệt tài chính.
- Kiến nghị trách nhiệm: Đề nghị UBND thành phố Yên Bái và các cơ quan chức năng hoàn thiện cơ chế đền bù sát giá thị trường; giải quyết nhanh các thủ tục giao đất tái định cư; ngân hàng chính sách xã hội tạo điều kiện cho các hộ mất đất tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi giải quyết việc làm.
4. Đóng góp của đề tài
Đề tài cung cấp bức tranh số liệu thực nghiệm đầy đủ về biến động tài nguyên đất đai, cơ cấu nhân khẩu, việc làm và cơ cấu kinh tế tại một địa bàn cấp xã (Phúc Lộc, TP. Yên Bái) chịu tác động trực tiếp từ chính sách thu hồi đất phục vụ công trình công cộng. Khóa luận chỉ ra điểm đặc thù của việc thu hồi đất xây dựng trường học, bệnh viện (không tạo việc làm tại chỗ như khu công nghiệp) và đề xuất phương án phân loại giải quyết việc làm theo lứa tuổi phù hợp với điều kiện kinh tế nông thôn trung du miền núi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
- Hạn chế của khóa luận: Khảo sát thực tế chỉ giới hạn ở quy mô mẫu 60 hộ trên địa bàn 3 thôn của một xã, chưa bao quát được toàn bộ địa bàn thành phố Yên Bái. Việc đánh giá chất lượng lao động trong đề tài mới dừng lại ở tiêu chí trình độ học vấn văn hóa và chuyên môn kỹ thuật, chưa lượng hóa được các yếu tố về thể lực và tâm lực của người lao động. Dữ liệu sơ cấp phản ánh tình trạng ngay sau thời điểm thu hồi đất (năm 2013) nên chưa đo lường được tính bền vững dài hạn của các mô hình sinh kế mới.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiến hành các nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) để đánh giá tác động lâu dài đến thu nhập và chất lượng cuộc sống của các hộ dân sau khi các công trình phúc lợi (bệnh viện 500 giường, trường học) đi vào hoạt động ổn định; mở rộng nghiên cứu sang các mô hình liên kết đào tạo nghề gắn với chuyển dịch kinh tế dịch vụ y tế - giáo dục phụ trợ xung quanh các công trình công cộng mới hình thành.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên cao học: Thuộc các chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý đất đai, Phát triển nông thôn, Kinh tế phát triển và Xã hội học; đặc biệt có giá trị tham khảo về phương pháp luận thiết kế nghiên cứu chọn mẫu phân tầng cấp xã và hệ thống chỉ tiêu phân tích tác động kinh tế - xã hội của chính sách thu hồi đất.
- Cán bộ quản lý và hoạch định chính sách địa phương: Cán bộ phòng Tài nguyên - Môi trường, phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện/thành phố, lãnh đạo UBND cấp xã trong việc xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ đào tạo nghề, định hướng phát triển làng nghề truyền thống và chuyển đổi cơ cấu lao động tại các vùng quy hoạch xây dựng công trình công cộng.
Câu hỏi thường gặp
1. Việc thu hồi đất tại xã Phúc Lộc giai đoạn 2011 - 2013 nhằm mục đích gì và có đặc điểm gì khác so với thu hồi đất xây dựng khu công nghiệp?
Toàn bộ 129,97 ha đất bị thu hồi tại xã Phúc Lộc được sử dụng để xây dựng các công trình phúc lợi xã hội, cụ thể là trường học, bệnh viện lao và bệnh viện 500 giường. Điểm khác biệt cơ bản là các dự án công trình phúc lợi này không trực tiếp tiếp nhận và giải quyết việc làm tại chỗ cho lực lượng lao động nông nghiệp phổ thông bị mất đất như khi thu hồi đất xây dựng các nhà máy, xí nghiệp trong khu công nghiệp.
2. Mẫu khảo sát sơ cấp trong khóa luận được chọn theo phương pháp nào và phân bổ ra sao?
Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, điều tra 60 hộ trong tổng số 256 hộ bị thu hồi đất tại 3 thôn. Mẫu được chia thành 2 nhóm: Nhóm I gồm 40 hộ (trong tổng số 170 hộ) chỉ bị thu hồi đất nông nghiệp (phân bổ theo nhóm mất <50% và >50% diện tích); Nhóm II gồm 20 hộ (trong tổng số 86 hộ) bị thu hồi kết hợp cả đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất thổ cư.
3. Quỹ đất nông nghiệp của xã Phúc Lộc đã biến động như thế nào sau quá trình thu hồi đất từ 2011 đến 2013?
Diện tích đất nông nghiệp toàn xã giảm mạnh từ 112,31 ha (chiếm 19,37% diện tích tự nhiên năm 2011) xuống còn 20,10 ha (chiếm 3,47% năm 2013), tương đương mức giảm 92,21 ha (giảm 82,1% quỹ đất nông nghiệp). Đất nông nghiệp bình quân trên một khẩu nông nghiệp giảm từ 0,09 ha/khẩu xuống còn 0,02 ha/khẩu; diện tích đất nông nghiệp bình quân trên một lao động nông nghiệp giảm từ 0,12 ha/lao động xuống còn 0,03 ha/lao động.
4. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động của xã Phúc Lộc dịch chuyển theo xu hướng nào trong giai đoạn 2011 - 2013?
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ: tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp giảm từ 44,43% (2011) xuống 30,66% (2013); công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng từ 41,93% lên 48,11%; thương mại - dịch vụ tăng từ 13,64% lên 21,23%. Tương ứng, tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ 80,45% xuống 61,95%, trong khi tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tăng từ 19,55% lên 38,05%.
5. Đề tài đề xuất định hướng giải quyết việc làm cụ thể nào cho từng nhóm lứa tuổi lao động bị mất đất?
Tác giả đề xuất phân luồng giải pháp: đối với lao động thanh niên, tập trung định hướng học nghề ngắn hạn, tư vấn và giới thiệu việc làm tại các doanh nghiệp hoặc xuất khẩu lao động; đối với lao động lớn tuổi khó chuyển đổi nghề, ưu tiên tạo việc làm tại chỗ thông qua phát triển làng nghề thủ công truyền thống (như nghề làm miến Đao), chăn nuôi hộ gia đình và thâm canh trên phần diện tích đất nông nghiệp còn lại.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Hoàng Thị Huế đã phản ánh một cách toàn diện thực trạng thu hồi đất và những biến động sâu sắc về đất đai, việc làm, cơ cấu kinh tế tại xã Phúc Lộc, thành phố Yên Bái giai đoạn 2011 - 2013. Bằng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích số liệu thống kê thứ cấp và điều tra thực nghiệm 60 hộ gia đình, đề tài đã chỉ rõ những khó khăn đặc thù trong chuyển đổi sinh kế khi nông dân mất đất phục vụ các công trình phúc lợi công cộng. Các giải pháp do tác giả đề xuất mang tính cụ thể, phân loại rõ định hướng theo lứa tuổi và xác định trách nhiệm rõ ràng cho các bên liên quan, đóng góp cơ sở thực tiễn có giá trị cho công tác quản lý lao động và an sinh xã hội ở địa phương.