Chương 1: Lịch sử vấn ñề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận của ñề tài nghiên cứu Chương 3: Thực trạng về việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học hoá học ở trường THPT một số tỉnh – thành phố phía nam. Chương 4: Thực trạng về các giờ thí nghiệm thực hành lý luận dạy học hoá học ở khoa Hoá Đại học Sư phạm Tp HCM. Chương 5: Xây dựng hệ thống các thí nghiệm trong phần thực hành lý luận dạy học hoá học. Chương 6: Phòng chống ñộc hại khi tiến hành thí nghiệm.
Chương 7: Rèn luyện các kỹ năng dạy học cho SV trong các buổi thực hành lý luận dạy học hoá học. Chương 8: Kết luận. Công trình nghiên cứu góp phần thay ñổi cách thức làm việc của phòng thí nghiệm, giúp SV rèn luyện tốt kỹ năng biểu diễn thí nghiệm và các kỹ năng sư phạm khác trong các buổi thực hành. SV sẽ vững vàng hơn khi ñi TTSP.
Một phần kết quả nghiên cứu của ñề tài là cơ sở cho việc ra ñời giáo trình Thực hành thí nghiệm phương pháp dạy học hoá học mới. Đây là một công trình nghiên cứu khoa học có giá trị cả về lý luận và thực tiễn trong công tác ñào tạo SV sư phạm. Giáo trình “THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HOÁ HỌC” của các tác giả Trịnh Văn Biều (chủ biên) – Trang Thị Lân – Vũ Thị Thơ – Trần Thị Vân, trường Đại học sư phạm Tp HCM năm 2001. Tài liệu gồm 6 chương cung cấp một số kiến thức cơ bản về: – Kỹ thuật sử dụng dụng cụ, hoá chất trong phòng thí nghiệm.
– Thí nghiệm và sử dụng thí nghiệm trong dạy học hoá học. – Các kỹ năng dạy học chủ yếu trong thực hành phương pháp DHHH. – Phòng chống ñộc hại khi tiến hành thí nghiệm. Tài liệu bao gồm 98 thí nghiệm trong ñó có một số thí nghiệm mới và thí nghiệm cải tiến, thí nghiệm lượng nhỏ.
Các thí nghiệm ñược trình bày theo chương trình của từng lớp 10, 11, 12 giúp cho SV dễ dàng tham khảo và chuẩn bị cho bài thực hành. Ở mỗi thí nghiệm ñều có hướng dẫn chi tiết, tỉ mỉ và ñặc biệt là những ñiều cần lưu ý và kinh nghiệm ñể thí nghiệm thành công. Tuy nhiên tài liệu vẫn còn thiếu nội dung về dụng cụ và hoá chất của từng thí nghiệm. Tài liệu “HƯỚNG DẪN THÍ NGHIỆM HOÁ HỌC LỚP 10, 11, 12” của tác giả Trần Quốc Đắc, NXB Giáo dục.
Ba cuốn tài liệu hướng dẫn thí nghiệm hoá học lớp 10, 11, 12 lần lượt ñược xuất bản năm 2007, 2008, 2009 ngay sau khi bộ sách giáo khoa mới ñược phát hành. Các tài liệu ñược tác giả biên soạn phù hợp với chương trình sách giáo khoa mới. Đây là các tài liệu ñược tác giả biên soạn tỉ mỉ và công phu, ở một số thí nghiệm tác giả còn giới thiệu những phương án thực hiện khác nhau ñể GV có thể tự chọn cho phù hợp với ñiều kiện thực tế và nhu cầu dạy học ở mỗi trường. Tài liệu “THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HOÁ HỌC” của Nguyễn Cương (chủ biên) – Nguyễn Xuân Trường – Nguyễn Thị Sửu – Đặng Thị Oanh – Nguyễn Mai Dung – Hoàng Văn Côi – Trần Trung Ninh – Nguyễn Đức Dũng, Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2008.
Đây chính là giáo trình PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HOÁ HỌC – TẬP III của Khoa Hoá học– Trường Đại học Sư phạm Hà Nội do một tập thể biên soạn tương ñối phù hợp với chương trình sách giáo khoa mới, các phần ñược trình bày 10 theo kiểu module có mục tiêu, nội dung, câu hỏi và bài tập. Tài liệu trình bày kĩ thuật và phương pháp tiến hành các thí nghiệm hoá học ở cả 2 bậc THCS và THPT, ngoài ra còn có một số nội dung khác như sử dụng một số phương tiện trực quan và phương tiện kĩ thuật dạy học. Đây là tài liệu tham khảo rất hữu ích cho SV sư phạm hoá học học viên cao học cũng như GV phổ thông. Các tài liệu trên là những tài liệu quý có giá trị cả về lí luận và thực tiễn.
Tuy nhiên các tài liệu này chủ yếu ñều ở dạng sách in nên hình ảnh minh hoạ chưa ñẹp, chưa khoa học hoặc chưa ñúng với thực tế của các dụng cụ. SV khó hình dung các hiện tượng xảy ra trong từng giai ñoạn của thí nghiệm. Vì vậy việc xây dựng giáo trình ñiện tử cho học phần này là hết sức cần thiết giúp cho SV hình dung các bước tiến hành thí nghiệm, các hiện tượng xảy ra,… từ việc chuẩn bị kỹ lưỡng cho bài thực hành từ ñó tiết kiệm ñược dụng cụ hoá chất, rút ngắn thời gian tự làm thí nghiệm thay vào ñó dành nhiều thời gian rèn luyện các kỹ năng dạy học cho SV trong buổi thực hành. Ứng dụng CNTT trong dạy học tích cực 1.
Phương pháp dạy học tích cực và vai trò của phương tiện dạy học [16] Trong thời ñại hiện nay, tốc ñộ phát triển của CNTT tin khiến cho người thầy không thể dạy hết mọi ñiều cho học trò, mà dù có kéo dài thời gian ñể dạy hết mọi ñiều thì rồi các kiến thức ñó cũng nhanh chóng trở nên lạc hậu. Do ñó, người thầy cần phải tìm ra phương pháp dạy học tích cực hơn ñể tăng hiệu quả dạy và học. Dạy cho học sinh cách học chủ ñộng, cách học suốt ñời, cách học những ñiều mà thực tế ñòi hỏi thay vì việc phải chuyển tải một lượng kiến thức quá nhiều ñến mức chúng không nhớ nổi hoặc cố nhớ lúc học, còn lúc thi và cần vận dụng thì quên sạch. Quan niệm và tiêu chuẩn dạy tốt thường thay ñổi theo thời gian và ñược chính xác hoá dần.
Trước ñây, “dạy tốt” thuần tuý là nghệ thuật cá nhân, với cách giảng truyền thống “thầy nói, trò ghi”, chủ yếu vẫn là theo hướng làm cho học sinh dễ tiếp thu những gì thầy “ñộc thoại” ở lớp. Nó ñã bộc lộ nhiều nhược ñiểm, trong ñó hai nhược ñiểm lớn nhất là: 11 – Đặt học sinh vào vị trí thụ ñộng, chờ ñợi. Cách dạy này chưa thể giúp cho người học “biến quá trình ñược ñào tạo thành tự ñào tạo”. – Chưa kiểm soát ñược nội dung có phù hợp với mục tiêu ñào tạo thực hành hay không.
Do ñó, ñến nay dạy tốt còn phải ñáp ứng những ñòi hỏi mới do thực tiễn ñặt ra. Vai trò của CNTT trong việc nâng cao tính tích cực của học sinh [15] Xuất phát từ các văn bản chỉ ñạo của Đảng và Nhà nước nhất là chỉ thị 58- CT/UW của Bộ Chính Trị ngày 07 tháng 10 năm 2000 về việc ñẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa và Hiện ñại hóa ñã chỉ rõ trọng tâm của ngành giáo dục là ñào tạo nguồn nhân lực về CNTT và ñẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và ñào tạo, ñây là nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ ñã giao cho ngành giáo dục giai ñoạn 2001–2005 thông qua quyết ñịnh số 81/2001/QĐ-TTg. Hiện nay các trường ñại học, cao ñẳng và trường phổ thông ñều trang bị phòng máy tính, phòng ña năng, kết nối Internet và Tin học ñược giảng dạy chính thức. Một số trường còn trang bị thêm thiết bị ghi âm, chụp hình, quay phim (Sound Recorder, Camera, Camcorder), máy quét hình (Scanner), và một số thiết bị khác, tạo cơ sở hạ tầng CNTT cho giáo viên sử dụng vào quá trình dạy học của mình.
CNTT mở ra triển vọng to lớn trong việc ñổi mới các phương pháp và hình thức dạy học. Những phương pháp dạy học theo cách tiếp cận kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn ñề càng có nhiều ñiều kiện ñể ứng dụng rộng rãi. Các hình thức dạy học như dạy học ñồng loạt, dạy theo nhóm, dạy học cá nhân cũng có những ñổi mới trong môi trường CNTT và truyền thông. Chẳng hạn, cá nhân làm việc tự lực với máy tính, với Internet, dạy học theo hình thức lớp học phân tán qua mạng, dạy học qua cầu truyền hình.
Nếu trước kia người ta nhấn mạnh tới phương pháp dạy sao cho người học nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay phải ñặt trọng tâm là hình thành và phát triển cho người học các phương pháp học chủ ñộng. Nếu trước kia người ta thường quan tâm nhiều ñến khả năng ghi nhớ kiến 12 thức và thực hành kỹ năng vận dụng, thì nay chú trọng ñặc biệt ñến phát triển năng lực sáng tạo của người học. Như vậy, việc chuyển từ “lấy giáo viên làm trung tâm” sang “lấy người học làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn. Sử dụng máy tính như công cụ dạy học hay như là phương tiện góp phần nâng cao tính tích cực trong dạy - học là ñể khai thác ñiểm mạnh của kỹ thuật hiện ñại hỗ trợ cho quá trình dạy - học.
Máy tính có thể mô phỏng những hiện tượng không thể hoặc không nên ñể xảy ra trong nhà trường, không thể hoặc khó thể hiện nhờ những phương tiện khác. Việc mô phỏng có thể tránh ñược những thí nghiệm nguy hiểm, vượt quá những hạn chế về thời gian, không gian và kinh phí. Máy tính có khả năng lưu giữ một lượng thông tin rất lớn và tái hiện chúng dưới những dạng khác nhau trong thời gian hạn chế. Máy tính có thể ñược dùng như một máy soạn thảo văn bản tuyệt vời.
Người giáo viên có thể dùng nó ñể chuẩn bị bài giảng, nội dung giảng dạy,… và chỉnh sửa, bổ sung, cập nhật thông tin cho bài giảng luôn mới, luôn phong phú và sinh ñộng. Máy tính cũng ñược dùng ñể tạo ra các bảng tính với những công thức hoặc chương trình cài ñặt sẵn và do ñó có thể giúp người học trong việc ñiều tra, nghiên cứu… và máy tính có thể hỗ trợ tốt cho những người học khác nhau từ người có tài năng ñến người bị khuyết tật… Máy tính còn cho phép người học học theo từng bước riêng của mình, do ñó tiết kiệm ñược nhiều thời gian giảng bài trên lớp, tạo nên khả năng cá thể hoá trong học tập của người học. Các chương trình dạy học trên máy còn tạo ñiều kiện cho người học tự củng cố những kiến thức mà mình chưa nắm vững. Mô phỏng trên máy tính giúp người học tự rèn luyện kỹ năng thực hành, làm các bài thí nghiệm mà không cần có trang thiết bị thực.