ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bổ các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng. Đặc biệt, đối với sản xuất nông nghiệp thì đất đai càng chiếm vai trò quan trọng vì đó là tư liệu sản xuất không thể thay thế được. Đất đai có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội sâu sắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đất đai là có hạn, hầu như bất biến về mặt diện tích trong khi dân số ngày càng tăng cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang diễn ra mạnh mẽ ở khắp mọi nơi trên thế giới đã đẩy nhu cầu về đất đai, đặc biệt là nhu cầu về đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tăng lên, sau khi nước ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, xu thế hội nhập toàn cầu đang phát huy tối đa sức mạnh của nó, các quan hệ đất đai từ đó càng thay đổi với tốc độ chóng mặt.
Cùng với quan hệ đất đai phức tạp và luôn biến đổi là việc quản lý, sử dụng đất còn nhiều bất cập. Đứng trước những vấn đề bức xúc như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã nhiều lần ban hành, sửa đổi, bổ sung các chính sách pháp luật về đất đai. Luật đất đai 2003 cùng với các Thông tư, Nghị định, văn bản hướng dẫn thi hành Luật đã và đang từng bước đi sâu vào thực tiễn, phù hợp với thực tế quản lý, sử dụng đất, với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong thực tế hiện nay, có nhiều địa phương, đơn vị, cá nhân thực hiện tốt công việc quản lý, sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó còn không ít địa phương, đơn vị, và một bộ phận cá nhân thực hiện chức năng quản lý còn lỏng lẻo, yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội. Do vậy, trong quá trình sử dụng đất còn xảy ra quá trình tranh chấp đất đai giữa các n 2 chủ sử dụng đất, vi phạm pháp luật như: lấn chiếm đất, sử dụng đất sai mục đích, …. Chính vì vậy, để chấn chỉnh việc quản lý nhà nuớc về đất đai cho chặt chẽ hơn, tuân thủ quy định của pháp luật để từ đó tạo điều kiện ổn định tình hình chính trị, kinh tế, xã hội thì công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý sử dụng đất, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất là việc làm hết sức cần thiết. Từ đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại và tố cáo về đất đai của Thành phố Lạng Sơn- tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2010-2014’’.
Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.1 Mục đích - Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai các vi phạm trong quản lý và sử dụng đất đai tại Thành phố Lạng Sơn –Tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2010 – 2014; - Tìm hiểu được những thuận lợi, khó khăn của công tác này trên địa bàn; - Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai tại địa phương.2 Yêu cầu - Tìm hiểu, nghiên cứu nắm được các văn bản quy định của Nhà nước đối với công tác , giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai. - Phản ánh đúng thực trạng thực hiện công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai của Thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn - Các số liệu điều tra, thu thập chính xác, đầy đủ, phản ánh trung thực khách quan việc thực hiện công tác địa phương. - Những kiến nghị, đề xuất đưa ra phải phù hợp với tình hình thực tế của địa phương và đảm bảo đúng với những quy định của pháp luật. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 2.1 Cơ sở pháp lý Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, điều 2 quy định rõ:” Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”.
Mọi mối quan hệ đều bị chi phối bởi mối quan hệ pháp luật, vì cậy các quan hệ đất đai cũng bị chi phối bởi các quy phạm pháp luật đất đai. Hiến pháp năm 1992, chương II, điều 17 và 18 quy định:” Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật đảm bảo sử dụng đúng mục đích và hiệu quả”. Để tăng cường công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đất đai trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai. Đặc biệt là sự ra đời của Luật đất đai 1987, 1993, sửa đổi bổ sung 1998 và 2001, 2003.
Đây được coi là văn bản pháp lý cao nhất về đất đai, là sự thể chế hóa các chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo hành lang pháp lý cho việc quản lý và sử dụng đất, góp phần củng cố chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đồng thời nâng cao tinh thần và trách nhiệm của người sử dụng đất. Pháp luật đất đai là một hệ thống các quy định của pháp luật về đất đai, được lập bởi QH và các cơ quan có thẩm quyền dưới các hình thức như: Luật, chỉ thị, thông tư, nghị quyết, nghị định,… nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong quá trình sở hữu, quản lý, sử dụng và định đoạt số phận pháp lý của đất đai. Cụ thể là: 1 ,Quốc hội, luật khiếu nại tố cáo 1998 2, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật khiếu nại tố cáo của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 58/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 n 4 3, Nguyễn Thị Lợi giáo trình Thanh Tra đất đai xuất bản năm 2011, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 4, Quốc Hội khóa XI đã thông qua Luật đất đai năm 2003. Luật đất đai 2003 ra đời đáp ứng những yêu cầu đổi mới của đất nước.
5, Quốc hội (2004), Luật Tố Tụng Dân sự 2004. 6, Chính phủ (2004), Nghị định 181/NĐ- CP ngày 29/10/2004 về hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2003 của chính phủ. 7,Chính phủ (2009), Nghị định 105/2009/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2009 Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. 8, Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính Phủ quy định bổ sung về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử đụng đát, trình tự, thủ tục, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai.
9, Nghị định 69/2009/CP-NĐ ngày 13/09/2009 của Chính Phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. 10, Căn cứ quyết định 09/2012/QĐ-UBND ngày 20 tháng 4 năm 2012 của UBND tỉnh Lạng Sơn về cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn; 11, Ngày 28/5/2013 UBND thành phố Lạng Sơn ban hành văn bản số 349/UBND-TC về việc nâng cao hiệu quả tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn trong thời gian tới.2 Cơ sở lý luận Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được công nhận tai Hiến pháp 1992 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Điều 74 Hiến pháp ghi nhận: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà n 5 nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào…”. Để việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng pháp luật góp phần phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của công dân, cơ quan, tổ chức, Luật Khiếu nại, tố cáo đã được Quốc hội khó X, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 02/12/1998 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1999; Luật này được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Quốc hội khó XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15/06/2004, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2004.
Điều 138 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Người sử dụng đất có quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai”. Và Điều 139 quy định: “Cá nhân có quyền tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai… Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo”.1 Khái niệm về khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai Khiếu nại: là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ , công chức do Luật khiếu nại, tố cáo quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ pháp lý cho rằng quyết định hoặc hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình [1]. Tố cáo: là việc công dân theo thủ tục của luật khiếu nại, tố cáo báo cho cơ quan tổ chức có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của công dân, cơ quan và tổ chức [2]. Tranh chấp đất đai: là tranh chấp giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai [4].2 Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai n 6 * Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai + Chủ tịch UBND cấp xã, thủ trưởng cơ quan thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp [4].