Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1. Tại sao phải phát triển nông thôn Theo Ngân hàng Thế giới: Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện đời sống kinh tế, xã hội của những người ở nông thôn, nhất là những người nghèo. Nó đòi hỏi phải mở rộng các lợi ích của sự phát triển đến với những người nghèo nhất trong số những người đang trong số những người đang tìm kế sinh nhai ở các vùng nông thôn.
Nước ta đang trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, từ một nước có nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu đi lên Chủ nghĩa xã hội, không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Hiện nay, khu vực nông thôn chiếm hơn 65% dân số cả nước nhưng lại có trình độ phát triển nhìn chung là thấp nhất so với khu vực khác của nền kinh tế, có đóng góp từ 25%-26% GDP của cả nước. Do đó, việc đầu tư phát triển nông thôn để đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, mới tạo tiền đề vững chắc để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đảng và Nhà nước ta coi đây là một nhiệm vụ quan trọng, vì nông dân, nông thôn Việt Nam có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của đất nước trước đây và trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
Khu vực nông thôn là khu vực có tài nguyên lớn về đất đai và các tiềm năng thiên nhiên khác. Nông thôn còn giữ vai trò chủ đạo trong cung cấp các nguồn nguyên, vật liệu cho phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ. Bộ mặt nông thôn nước ta đã có nhiều đổi mới, từ chỗ bị thiếu ăn đến nay đã và đang là một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại, hạn chế mà chưa có giải pháp hữu hiệu.
Như vốn đầu tư cho khu vực này vẫn thấp (chiếm khoảng 11% tổng đầu tư toàn xã hội); Trước đây, sản phẩm nông nghiệp lại chủ yếu thiên về số lượng, e 5 chưa nâng cao về chất lượng, giá thành sản phẩm còn cao, năng suất lao động và hiệu quả sản xuất còn thấp, khó tạo nên lợi thế cạnh tranh; Trong khi đó, các chính sách và biện pháp mà Nhà nước đã áp dụng cho phát triển nông nghiệp nông thôn chưa tạo bước đột phá mạnh. Trình độ dân trí của một bộ phận nông dân, nhất là vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn chưa được cải thiện, đời sống, xã hội nông thôn mặc dù có sự chuyển biến song chưa mạnh và không đồng đều, dẫn đến sự chênh lệch mức sống giữa khu vực thành thị và nông thôn ngày càng lớn. Bên cạnh đó, từ kinh nghiệp có chọn lọc của các nước trong khu vực (như Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc…) đều cho thấy bài học: Đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn là cơ sở để chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế đất nước. Vai trò của vốn trong phát triển nông thôn Vốn được hiểu một cách chung nhất là các của cải vật chất do con người tạo ra hoặc huy động được và tích lũy lại.
Vốn đầu tư là tiền, tài sản tích lũy của xã hội và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì và tạo ra tiềm lực mới cho xã hội. Huy động vốn đầu tư là các hoạt động nhằm làm tăng quy mô và số lượng vốn để thực hiện đầu tư trong một thời gian hay một thời kỳ phát triển kinh tế xã hội. Vốn là điều kiện hàng đầu của tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội, nhất là tại khu vực nông thôn, nơi mà điều kiện kinh tế xã-xã hội còn thấp kém. Riêng đối với khu vực nông thôn vai trò của vốn trong đầu tư phát triển rất quan trọng, là yếu tố quyết định đến sự tăng trường và phát triển bền vững tại nông thôn.
Nhất là trong giai đoạn hiện nay với nền kinh tế thị trường, vai trò của vốn đầu tư ngày càng thể hiện được vị trí quan trọng. Để đạt được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, cần phải có một khối lượng vốn rất lớn. Điều e 6 này càng được khẳng định chắc chắn khi nghiên cứu vai trò của vốn đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội của nước ta. Các kênh để huy động vốn phát triển nông thôn - Vốn đầu tư trong nước: Đây là nguồn vốn cơ bản, có vai trò quyết định chi phối mọi hoạt động đầu tư phát triển trong nước.
Sự hỗ trợ đầu tư vốn từ bên ngoài chỉ mang tính chất hỗ trợ, tạm thời, không tạo được yếu tố bền vững. Chỉ bằng cách sử dụng nguồn vốn đầu tư trong nước có hiệu quả mới nâng cao được vai trò của vốn và thực hiện được các mục tiêu quan trọng đề ra trong đầu tư phát triển nông thôn. - Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ khối lượng đầu tư. Có vị trí rất quan trọng trong việc tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi nhằm đẩy mạnh đầu tư theo định hướng chung của kế hoạch, chính sách và pháp luật đồng thời trực tiếp tạo ra năng lực sản xuất của nền kinh tế, đảm bảo theo đúng định hướng của chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội.
Ngân sách nhà nước với tư cách là công cụ tài chính vĩ mô hữu hiệu nhất, là công cụ bù đắp những khiếm khuyết của thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái … - Vốn đầu tư từ các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng: Đây là nguồn vốn có sự phát triển và đổi thay khá mạnh khi nền kinh tế có sự chuyển biến. Các doanh nghiệp luôn là lực lượng đi đầu trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật. Nên nguồn vốn xuất phát từ nó có vai trò hữu hiệu hỗ trợ cho sự định hướng điều tiết, phát triển kinh tế, hỗ trợ đầu tư. - Vốn đầu tư của nhân dân: Nguồn vốn này phụ thuộc nhiều vào tài sản, thu nhập, chi tiêu của nhân dân, nhân dân có thể góp vốn đầu tư dưới nhiều hình thức (tiền, ngày công lao động, hiến đất,.
e 7 - Vốn nước ngoài: gồm có vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). và các nguồn hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ khác. Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 1. Các chính sách huy động vốn đầu tư phát triển nông thôn của Việt Nam 1.
Các chính sách trong nước về huy động vốn đầu tư phát triển nông thôn Trong những năm qua, Quốc hội và Chính phủ đã có nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư từ vốn ngân sách Nhà nước ưu đãi thu hút đầu tư xã hội vào khu vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn; hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất và tiêu thụ nông sản. Trong đó đặc biệt là Nghị quyết số 26 NQ/TW ngày 5/8/2008 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định số 551/QĐ- TTg ngày 04/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình 135 về hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn, Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020; Nghị quyết số 26/2012/QH13 của Quốc hội khóa XIII về việc tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách pháp luật đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã xác định: Tăng đầu tư phát triển cho khu vực nông thôn đảm bảo 5 năm sau cao gấp 2 lần 5 năm trước; Chương trình hỗ trợ đầu tư cho huyện có tỷ lệ hỗ nghèo cao theo Nghị quyết 30a. Các chương trình, kế hoạch đầu tư công vào lĩnh vực nông thôn hàng năm. Ngoài ra còn có chính sách hỗ trợ lãi xuất cho vay đầu tư phát triển nông thôn.
Đối với tỉnh Lạng Sơn còn có chính sách đặc thù để khuyến khích đầu tư vào nông thôn. e 8 Các chính sách đó được thực hiện một cách nhất quán và liên tục được hoàn thiện theo hướng tạo môi trường ngày càng thuận lợi để thu hút có hiệu quả các nguồn vốn vào lĩnh vực này. Qua đó, tác động lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, giúp cho hạ tầng nông thôn phát triển mạnh mẽ, làm thay đổi bộ mặt nhiều vùng nông thôn. Điều kiện sống cả về vật chất và tinh thần của số lượng lớn dân cư nông thôn được nâng cao, từng bước thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.
Kết quả thực hiện chính sách và một số tồn tại, hạn chế - Kết quả thực hiện Thực hiện các chủ trương, cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư từ vốn ngân sách Nhà nước ưu đãi thu hút đầu tư xã hội vào khu vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn; hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất và tiêu thụ nông sản của Đảng và Nhà nước. Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách được được tập trung thực hiện đồng bộ từ huyện đến xã, thôn. Nhất là các chính sách liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và sự tham gia của người dân. Công tác xây dựng kế hoạch được thực hiện công khai, dân chủ, có sự tham gia ý kiến của người dân trước khi hoàn chỉnh, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để triển khai thực hiện.
Việc tổ chức thực hiện các chính sách sách đầu tư phát triển nông thôn đã tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân, nhất là tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn của huyện. Kết quả thực hiện đã đã góp phần quan trọng làm thay đổi bộ mặt nông thôn, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội, tạo việc làm và tăng thu nhập cho hộ nông dân, người lao động. Củng cố được lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển sản xuất đã giúp cho các hộ nông dân giảm chi phí đầu tư sản xuất nông nghiệp, góp phần tăng năng suất và chất lượng sản phẩm.