CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ LUẬN ÁN 1. Các công trình trên thế giới Trên thế giới, liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ đã có một lịch sử phát triển lâu dài, chính vì vậy đã có rất nhiều quan điểm, kết quả nghiên cứu liên quan đến vấn đề này được đưa ra: Phương pháp nghiên cứu: Phần lớn các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích định tính. Tuy nhiên cũng có một số tác giả sử dụng phương pháp định lượng hoặc kết hợp giữa định lượng và định tính như Obasi Igweoscar (2008), An Sokchea and Richard J.
Phương pháp định lượng được sử dụng chủ yếu ở nội dung xác định các yếu tố ảnh hưởng và tác động của liên kết kinh tế. Các biến số được sử dụng trong các mô hình định lượng ở các nghiên cứu nước ngoài tương đối đa dạng, tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã gặp phải tình trạng là trong mô hình nghiên cứu thiếu nhiều biến số quan trọng và các biến độc lập có quan hệ tuyến tính với nhau (nguyên nhân của hiện tượng đa cộng tuyến). Vai trò của nhà nước đối với liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong SXNN: Liên quan đến nội dung vai trò của nhà nước về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ, một số nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra được một số vai trò và khía cạnh của công tác quản lý nhà nước đối với liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ. Likulunga (2005) cho rằng, Chính phủ có tác động đến kết quả và hiệu quả hoạt động liên kết kinh tế, trong đó có cả các cơ quan chính quyền địa phương.
Cụ thể, theo Eaton và cộng sự (2001), các chính sách hỗ trợ phù hợp của Chính phủ là nhân tố tác động tích cực đến sự thành công của liên kết kinh tế. Ngược lại, sự hỗ trợ của Chính phủ không căn cứ vào khả năng, nhu cầu doanh nghiệp sẽ không thể tạo ra nhiều tác động tích cực thúc đẩy hoạt động liên kết kinh tế (GIZ, 2013). Hay sự thiếu hụt các chính sách phù hợp sẽ tác động tiêu cực đến hoạt động liên kết kinh tế (Ian Kumwenda, Mathews Madola, 2005). Nhấn mạnh đến khung pháp lý, Matthew Warning, Wendy Soo Hoo (2000) cho rằng, yếu tố chính ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả thực hiện liên kết chính là khung pháp lý.
Mặc dù các nghiên cứu trên thế giới đã đề cập được nhiều khía cạnh về vai trò của nhà nước đối với liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ tuy nhiên ta 9 cũng thấy được rằng, khía cạnh khung pháp lý đối với hoạt động liên kết kinh tế chỉ được đề cập một cách chung chung, chưa cụ thể. Bên cạnh đó, vấn đề tổ chức bộ máy quản lý nhà nước để phát huy vai trò của nhà nước đối với liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ sao cho hiệu quả cũng còn ít được đề cập. Hình thức và mô hình liên kết và ràng buộc trong liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong SXNN: Liên quan đến các hình thức liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ, đã có khá nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài đã đưa ra cách phân loại liên kết kinh tế. Trong đó cách phân loại của Ellman (1986), Glover and Kusterer (1990), Baumamm (2000) and Eaton & cộng sự (2001) là cách được khá nhiều người sử dụng khi nghiên cứu về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ.
Theo các tac giả trên, liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ có thể được chia thành 4 hình thức là: mô hình trang trại hạt nhân, mô hình tập trung, mô hình trung gian, mô hình không chính thức, và đây là hình thức phân loại được khá nhiều nhà nghiên cứu sau này thừa nhận và áp dụng theo như Songsak Sriboonchitta, Aree Wiboonponse, Respikius Martin, Jeff Sharp… Một cách tiếp cận khác, theo Bijman, 2008 được GIZ, 2013 trích dẫn, liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ theo hình thức hợp đồng sẽ có 3 hình thức là: hợp đồng tiếp thị, hợp đồng quản lý sản xuất và hợp đồng nguồn cung đầu vào. Ngoài ra, theo Respikius Martin và cộng sự (2016), trong liên kết có ba dạng hợp đồng chính là “market specification contract”, “production management contract” và “resource provision contract”. Trong đó, “market specification contract” là thỏa thuận trước khi thu hoạch giữa người sản xuất và doanh nghiệp với điều kiện điều chỉnh việc bán cây trồng. Hợp đồng thường quy định thời gian, địa điểm bán và tiêu chuẩn chất lượng của hàng hóa nông dân cung cấp.
Theo loại hợp đồng này, người nông dân duy trì hầu hết các quyền quyết định đối với các hoạt động canh tác của mình và chịu phần lớn rủi ro đối với các hoạt động sản xuất của mình. “Production management contract” là dạng liên kết nông dân có quyền kiểm soát nhiều hơn các quá trình sản xuất so với dạng hợp đồng ở trên. Theo hợp đồng này, người sản xuất đồng ý tuân theo các phương pháp sản xuất một cách chính xác và tuân thủ các loại và số lượng đầu vào cần thiết đã quy định. “Resource provision contract” là dạng hợp đồng cung cấp nguồn lực, theo đó, doanh nghiệp đồng ý cung cấp các đầu vào chính nhưng cũng có thể hoạt động như một đầu ra thị trường cho hàng hóa được sản xuất.
Chi phí đầu vào được thu hồi khi giao sản phẩm. 10 Các nhà nghiên cứu nước ngoài đã đề cập nhiều khía cạnh về cách phân loại liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ, tuy nhiên chúng ta có thể thấy được rằng, các cách phân loại ở trên đôi lúc gây khó hiểu cho người đọc. Ràng buộc trong liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ trong SXNN: Về các ràng buộc hay cam kết trong liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ, có rất nhiều nghiên cứu nước ngoài đã đề cập đến nội dung này và theo họ, các ràng buộc phổ biến trong liên kết gồm: thời hạn hợp đồng, yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng của người mua, hạn ngạch sản xuất của nông dân, yêu cầu tập quán canh tác của nông dân của doanh nghiệp, tổ chức giao hàng, cách thức xác định giá (giá cố định tại thời điểm bắt đầu mỗi mùa, giá linh hoạt dựa trên thị trường, giá giao ngay, giá lô hàng, giá chia sẻ), cải tạo tín dụng, bảo hiểm (Eaton & cộng sự, 2001)… Tuy nhiên chúng ta cũng có thể thấy được rằng, các cam kết trong liên kết thường được các nhà nghiên cứu, phân tích đề cập một cách chung chung, ít được phân tich sâu. Vai trò của liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông hộ: Đối với nông hộ: Có rất nhiều nghiên cứu ở nước ngoài đề cập đến nội dung vai trò hay tác động của liên kết kinh tế đến nông hộ.
Các nghiên cứu này đã đề cập đến rất nhiều khía cạnh liên quan đến “các tác động của liên kết kinh tế” đến nông hộ, bao gồm cả các tác động trực tiếp và các tác động gián tiếp như: 1). Liên kết kinh tế giúp nông hộ cải thiện việc tiếp cận các yếu tố đầu vào như: dịch vụ sản xuất (Eaton & cộng sự, 2001), nguồn lực tài chính (Nigel Key, David Runsten, 1999), hạt giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (ADB, 2015), tiếp cận thông tin kỹ thuật (IFAD, 2007), được hỗ trợ kỹ thuật (ADB, 2015), từ đó giúp cải tiến kỹ thuật sản xuất, có kinh nghiệm và nâng cao kỹ năng. Liên kết kinh tế giúp nông dân có thể tiếp cận với công nghệ mới (Eaton và cộng sự, 2001) từ đó giúp tăng việc áp dụng công nghệ trong quá trình sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Liên kết giúp nông hộ giảm giảm chi phí sản xuất (ADB, 2015) thông qua việc sử dụng nguồn lực tốt hơn, giảm chi phí đầu vào do mua sắm số lượng lớn, giảm chi phí giao dịch, giảm tổn thất (GIZ, 2013).
Tuy nhiên, việc sản xuất theo các tiêu chí bền vững khi tham gia liên kết kinh tế cũng làm tăng chi phí sản xuất (Peter H.C Mascarenhas, Jason Potts, 2004). Liên kết kinh tế có thể giúp tăng khả năng tiếp cận thị trường của nông hộ (Phil Simmons, 2003), giúp nông hộ giảm rủi ro về giá (Nigel Key, David Runsten, 11 1999), giảm rủi ro thị trường (GIZ, 2013), giảm rủi ro thiên tai (ADB, 2015). Tuy nhiên, khi tham gia liên kết kinh tế, nông dân cũng đối mặt với việc tăng rủi ro sản suất, tăng rủi ro đầu tư (GIZ, 2013), tăng rủi ro về thị trường (Eaton & cộng sự, 2001) hay tăng rủi ro tiếp thị (GIZ, 2013). Theo Obasi I gweoscar (2008), liên kết kinh tế giúp tăng năng suất nông nghiệp.
Từ đó, có thể làm tăng lợi nhuận, tăng doanh thu và tăng tỷ suất sinh lời cho nông dân (An Sokchea & Richard J. Tuy nhiên cũng có kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, tỷ suất lợi nhuận giữa người thực hiện hợp đồng và người không thực hiện hợp đồng không có nhiều sự khác biệt (Bharat Ramaswami, Pratap Singh Birthal & P. Joshi, 2009)… Đối với doanh nghiệp: Tương tự như trường hợp nông hộ, cũng có rất nhiều nghiên cứu ở nước ngoài đề cập đến nội dung vai trò hay tác động của liên kết kinh tế đến doanh nghiệp. Các nghiên cứu này đã đề cập đến rất nhiều khía cạnh liên quan như: 1).
Liên kết kinh tế giúp doanh nghiệp tiếp cận được với đất đai (Ian Patrick, 2004), từ đó có thể khắc phục sự thiếu hụt về đất đai, đây cũng là giải pháp tiếp cận lao động nông nghiệp cho doanh nghiệp. Tuy nhiên theo Ian Patrick (2004), liên kết kinh tế cũng có thể làm doanh nghiệp gia tăng rủi ro như rủi ro về giá cả thị trường hay rủi ro do việc mất mùa. Liên kết có thể giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí (Ian Patrick, 2004) như: Giảm chi phí đầu tư, chi phí hoạt động sản xuất thông qua việc giảm chi phí giao dịch; Giảm chi phí nhân viên thông qua sản xuất gia công hoặc hợp đồng phụ (GIZ, 2013) hay nhờ tiếp cận được lao động giá rẻ (Ian Patrick, 2004). Tuy nhiên cũng có kết quả nghiên cứu chi ra rằng, hoạt động liên kết sẽ làm doanh nghiệp tăng chi phí liên kết với nông dân sản xuất nhỏ (Nicholas Minot, 2011) hay tăng chi phí do đầu tư cơ sở hạ tầng (GIZ, 2013).