mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài luận văn chia thành 3 chương, gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của dự án phát triển cơ sở hạ tầng đến sinh kế người dân trên địa bàn huyện Chƣơng 2: Thực trạng tác động của dự án phát triển cơ sở hạ tầng đến sinh kế người dân xã Lũng Phìn, huyên Đồng Văn, tỉnh Hà Giang Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tác động của dự án phát triển cơ sở hạ tầng đến sinh kế của người dân huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. 7 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA DỰ ÁN PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐẾN SINH KẾ NGƢỜI DÂNTRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN 1.1 Cơ sở lý luận về tác động của dự án phát triển cơ sở hạ tầng đến sinh kế 1. Những vấn đề về sinh kế 1. Khái niệm về sinh kế Theo quan niệm truyền thống, sinh kế hay kế sinh nhai là phương thức mà mỗi cá nhân, hộ gia đình hoặc mỗi cộng đồng cụ thể nào đó kiếm sống, đó là cách thức cá nhân, hộ gia đình hoặc mỗi cộng đồng có được thu nhập nhằm phục vụ cho cuộc sống của họ.
Đây là quan niệm theo nghĩa hẹp, trực diện vào sinh kế, không xem xét đến yếu tố nguồn lực là cơ sở của sinh kế. Chính vì vậy, đã có sự mở rộng về quan niệm sinh kế và quan niệm phổ biến hiện nay cho rằng sinh kế của hộ hay cộng đồng là sự tập hợp của nhiều nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với các quyết định và các hoạt động mà họ sẽ thực hiện nhằm không chỉ mục tiêu kiếm sống mà còn đạt đến các mục tiêu đa dạng hơn. Bộ Phát triển quốc tế Anh (DFID) định nghĩa sinh kế là tập hợp tất cả những nguồn lực và các khả năng mà con người có được, kết hợp với các hoạt động và các quyết định mà họ thực hiệnvì mục tiêu kiếm sống cũng như để đạt được những mục tiêu và ước nguyện của họ.Đây là định nghĩa phản ánh rõ ràng và đầy đủ về sinh kế, nó không chỉ phản ánh bản chất của sinh kế mà còn đề cập đến nguồn góc của những phương thức sinh kế cụ thể, những nhân tố tác động trực diện đến sinh kế. Đề tài luận văn này nghiên cứu theo quan niệm mở rộng này về sinh kế.
Khung phân tích sinh kế 8 Nhằm duy trìsinh kế, các hộ gia đình thường có chiến lược duy trì và phát triển các kế sách sinh nhai khác nhau. Các kế hoạch này phụ thuộc vào các đặc điểm riêng biệt của từng hộ dựa trên mối quan hệ giữa những thành viên, phân bổ thích hợp nguồn lực bao gồm nguồn phi vật chất và vật chất nhằm tạo ra của cải và cải thiện kinh tế của hộ. Có nhiều tổ chức khác nhau như OXFAM, UNDP và CARE áp dụng các khung phân tích sinh kế và có sự khác nhau nhất định giữa các tổ chức về thành phần và vai trò của các thành phần trong sinh kế, khung sinh kế bền vững có những đặc điểm chung cơ bản như sau: - Khung sinh kế là một trong những công cụ được xây dựng đểđánh giá, xem xét một cách toàn diện tất cả những yếu tố khác nhau ảnh hưởng thế nào đến sinh kế của con người, đặc biệt là những cơ hội có thể hình thành nên chiến lược sinh kế của con người. Đây là một cách tiếp cận khá toàn diện trong việc xây dựng các lợi thế hoặc chiến lược đặt con người có vai trò trung tâm của quá trình phân tích nhằm tìm hiểu xem các yếu tố này có quan hệ liên quan với nhau như thế nào trong những bối cảnh cụ thể.
- Khung sinh kế có các thành phần cơ bản gồm: các nguồn vốn (tài sản), chu trình thay đổi cấu trúc, thay đổi về ngữ cảnh bên ngoài, chiến lược sinh kế và kết quả của chiến lược sinh kế. Tuy nhiên, nhìn chung sinh kế của hộ gia đình dựa trên 5 loại nguồn lực chính như sau: 9 Ngữ cảnh Nguồnvốn Chính sách Chiến lược Kết quả/mục dễ bị tổn sinh kế thể chế sinh kế tiêu của sinh kế thương (cấu trúc - Dự trên tài - Tăng thu nhập chính phủ, nguyên - Tăng phúc lợi Xu hướng, - Nhân lực - Vật chất tư nhân, - Không - Giảm tổn mùa vụ, - Xã hội luật pháp, dựa trên tài thương các tác chính nguyên - Cải thiện an động từ - Tự nhiên sách…) - Di cư toàn lương thực bên ngoài - Tài chính - Sử dụng nguồn tài nguyên bền vững hơn Nguồn: Báo cáo IFAD Hình 1.1: Khung phân tích sinh kế - Nguồn nhân lực: là các kỹ năng,khả năng, kiến thức công việc và sức khỏe giúp con người thực hiệncác chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được kết quả về sinh kế. Đối với các hộ gia đình, vốn con người biểu hiện ở điểm lượng và chất về lực lượng lao động thuộc gia đình đó. về mặt số lượng, nguồn nhân lực thể hiện số lượng lao động trong và ngoài độ tuổi ở trong mỗi hộ gia đình.
Trong khi đó về mặt chất lượng thì nguồn nhân lực biểu hiện trình độ học vấn, kỹ năng lao động, khả năng quản lý gia đình, tình trạng sức khỏe của người lao động và các thành viên thuộc gia đình đó. Nguồn nhân lực chính là điều kiện cần thiết để có thể khai tác và phát huy một cách hiệu quả bốn loại nguồn lực khác. Tuy nhiên, nguồn nhân lực một mặt không chỉ biểu hiện ở thời điểm hiện tại mà còn thể hiện khả năng có thể thay đổi trong trong tương lai. Có thể có cùng mức độ hiện trạng nhưng cơ hội thay đổi khác nhau thì vốn con người hoàn toàn có khả năng khác nhau.
Chính vì thế, khi xem xét nguồn nhân lực hay nguồn vốn khác chúng ta không chỉ xem xét hiện trạng mà hộ 10 gia đình hay cộng đồng đó đang có mà còn xem xét cơ hội thay đổi hoặc khả năng của nguồn lực đó như thế nào. - Nguồn lực tài chính: là các nguồn tài chính mà người ta sử dụng để đạt tới các mục tiêu về sinh kế. Các nguồn lực đó chia ra như sau: + Nguồn dự trữ hiện tại: tiết kiệm có thể dưới nhiều dạng: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, hoặc các tài sản khác như vật nuôi đồ trang sức. + Dùng tiền theo định kỳ từ nguồn thu nhập kiếm được như chế độ lương hưu hoặc những chế độ khác của nhà nước và tiền từ thân nhân gửi về.
+ Khả năng có thể tiếp cận được các nguồn vốn tín dụng từ bên ngoài như từ người thân quen hoặc thông qua các tổ chức tín dụng khác nhau. Mức độ nguồn tài chính hiện tại (nguồn tài chính dự trữ và nguồn thu nhập hiện có) cùng với khả năng có thể tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài là cơ sở tài chính cho phép hộ gia đình hay cộng đồng đó sử dụng cho các hoạt động sinh kế và đạt được mục tiêu về sinh kế. - Nguồn lực tự nhiên: là các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất, nước. mà con người có được hoặc tiếp cận được nhằm phục vụ cho các loại hình hoạt động và mục tiêu về sinh kế.
Nguồn lực tự nhiên biểu hiện ở khả năng có thể sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm tạo ra thu nhập vì mục tiêu về sinh kế. Đó có thể là mức độ đóng góp nguồn lực vật chất đối với các hoạt động tạo ra thu nhập của hộ gia đình hay cộng đồng hay tác động đến chất lượng cuộc sống của người như chất lượng nước, chất lượng không khí, chất lượng môi trường. Điều này có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nguồn lực tự nhiên tự nhiên còn thể hiện ở qui mô và chất lượng đất đai, chất lượng và qui mô nguồn nước, chất lượng và qui mô các nguồn tài nguyên khoáng sản, chất lượng và qui mô tài nguyên thủy hải sản và nguồn 11 không khí.
Nhờ những yếu tố tự nhiên này con người có thể sử dụng để thực hiện các hoạt động sinh kế như đât và nước, khoáng sản hoặc thủy hải sản hay là những yếu tố tự nhiên có tác động gián tiếp hay trực tiếp đến cuộc sống của con người như không khí hoặc sự đa dạng về sinh học. - Nguồn lực vật chất: được coi là một loại tài sản sinh kế. Nó bao gồm CSHT cơ bản và hàng hóa vật chất để bổ trợ việc thực thi các hoạt động sinh kế. Nguồn lực vật chất thể hiện không chỉ cấp cấp hộ gia đình mà còn ở cả cấp cơ sở cộng đồng.
Ở cấp độ cộng đồng, đó là CSHT nhằm bổ trợ cho sinh kế của cá nhân hay cộng đồng gồm hệ thống đường, điện, trường trạm, hệ thống cấp nước và vệ sinh môi trường, hệ thống tưới tiêu, chợ. Đây là phần nguồn lực vật chất bổ trợ cho các hoạt động sinh kế phát huy một cách hiệu quả. Ở cấp độ hộ gia đình, nguồn lực vật chất gồm các trang thiết bị liên quan đến sản xuất như máy móc, dụng công cụ sản xuất, nhà xưởng hay các tài sản để phục vụ các nhu cầu trong cuộc sống gồm nhà của, các trang thiết bị sinh hoạt trong gia đình. Nguồn lực vật chất cũng được thể hiện trạng thái hiện tại và khả năng thay đổi ở trong tương lai.
Tuy nhiên, mức độ thay đổi này lại phụ thuộc vào các loại vốn hay tài sản mà đặc biệt là nguồn vốn tài chính. Nếu nguồn vốn tài chính dồi dào thì khả năng thay đổi nguồn vốn vật chất sẽ dễ dàng và ngược lại. - Nguồn lực xã hội: cũng là một loại tài sản sinh kế. Tài sản này nằm trong các mối quan hệ xã hội (hoặc các nguồn lực xã hội) có tính chất chính thể và phi chính thể mà nhờ đó người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được nhiều lợi ích trong quá trình thực hiện hoạt động sinh kế.
Những nguồn lực xã hội này có được qua việc đầu tư vào. + Hợp tác cùng nhau để tăng khả năng làm việc. 12 + Là các thành viên của các nhóm không chính thức trong đó các mối quan hệ tuân theo những quy định và luật lệ đã được thống nhất. + Các mối quan hệ dựa trên niềm tin để thúc đẩy sự hợp tác.