CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN TẠO ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CỦA TẠO ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Nhu cầu Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn không thỏa mãn về một cái gì đó và mong muốn được đáp ứng nó [3, tr. Nhu cầu là những đòi hỏi của con người muốn có điều kiện nhất định để sống và phát triển [5, tr.
Nhu cầu được hiểu là sự cần thiết về một cái gì đó, nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Hệ thống nhu cầu của con người phong phú và đa dạng, cùng lúc có thể tồn tại nhiều nhu cầu và thường xuyên tăng lên cùng lúc về chất lượng và số lượng, khi một nhu cầu được thoả mãn lập tức xuất hiện nhu cầu khác cao hơn. Hiểu được nhu cầu của người lao động là nhân tố quan trọng giúp cho doanh nghiệp có chính sách gắn kết chặt chẽ hơn với mong muốn, tâm tư của người lao động. Một khi nhu cầu của người lao động được thỏa mãn thì mức độ hài lòng của người lao động về công việc và tổ chức của mình sẽ tăng lên và nhờ vậy họ sẽ gắn kết nhiều hơn với doanh nghiệp.
Động cơ thúc đẩy Động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động. Đó là sức mạnh bên trong thúc đẩy con người hoạt động, chỉ đạo hành vi và làm gia tăng lòng quyết tâm bền bỉ giành lấy mục tiêu [10, tr. Luan van 11 Động cơ ám chỉ những nỗ lực cả bên trong lẫn bên ngoài của một con người, có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định nhằm đạt được mục tiêu thỏa mãn các nhu cầu cá nhân theo mức độ mong muốn [4, tr. Có thể nói, người lao động có động cơ làm việc một cách tự nhiên.
Động cơ này bắt nguồn từ một thực tế là mọi người đều mong muốn được khẳng định bản thân mình, được thành đạt, được tự chủ và có thẩm quyền đối với công việc của mình, cũng như muốn có thu nhập đảm bảo cuộc sống cá nhân sung túc. Chính vì vậy, để người lao động làm việc tốt thì người quản lý cần phải loại trừ những hoạt động tiêu cực có thể triệt tiêu động cơ làm việc tự nhiên của người lao động, kế tiếp cần phải phát triển những yếu tố thực sự có thể thúc đẩy người lao động làm việc. Động cơ ảnh hưởng đến hiệu suất công việc của người lao động và một phần công việc của nhà quản trị là định hướng và khơi dậy động cơ của người lao động nhằm hoàn thành mục tiêu của tổ chức. Động lực thúc đẩy Động lực thúc đẩy là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức [6, tr.
“Động lực là sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của nổ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện một số nhu cầu cá nhân được thõa mãn” (Robbins, 1988). “Động lực thể hiện quá trình tâm lý tạo ra sự thức tỉnh, định hướng và kiên trì thực hiện các hoạt động tự nguyện nhằm đạt được mục tiêu” (Mitchell, 1982) [2, tr. Động lực thúc đẩy của người lao động là kết quả tương tác đồng thời của các yếu tố: yếu tố thuộc về cá nhân người lao động, yếu tố thuộc về môi trường doanh nghiệp, yếu tố thuộc về nội dung bản chất công việc, yếu tố môi Luan van 12 trường vĩ mô ngoài doanh nghiệp… Nói cách khác, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới động lực thúc đẩy cho người lao động. Như vậy, động lực thúc đẩy của mỗi người lao động sẽ khác nhau, khi con người ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu mong muốn khác nhau, vì vậy nhà quản trị cần có những tác động khác nhau đến mỗi người lao động.
Mối quan hệ giữa động lực thúc đẩy và động cơ thúc đẩy Để tạo ra động lực thúc đẩy cho người lao động, nhà quản trị không chỉ nghiên cứu các nhu cầu mong muốn làm phát sinh động cơ thúc đẩy làm việc, và biết được mức độ nhu cầu mong muốn được thỏa mãn để từ đó đáp ứng một cách kịp thời, thỏa đáng, phù hợp với công sức đóng góp của người lao động. Hay nói cách khác, để tạo ra động lực thúc đẩy cần phải nắm bắt các nhu cầu làm phát sinh động cơ thúc đẩy và đáp ứng các lợi ích một cách thỏa đáng bù đắp cho công sức lao động đó bỏ ra. Như vậy giữa động cơ thúc đẩy và động lực thúc đẩy có mối quan hệ khăng khít, động lực thúc đẩy tùy thuộc vào động cơ thúc đẩy và tác động của môi trường bên ngoài. Tạo động lực thúc đẩy Tạo động lực thúc đẩy là một hệ thống các công cụ, chính sách, biện pháp, giải pháp mà nhà quản trị sử dụng tác động đến người lao động nhằm khích thích động viên khuyến khích người lao động nhằm đạt mục tiêu phát triển của tổ chức.
Tạo động lực không chỉ quan tâm nhu cầu mà còn phải tạo ra môi trường làm việc thuận lợi cho người lao động, do đó các hệ thống các công cụ chính sách, giải pháp của các nhà quản trị phải hướng đến. Tạo động lực làm việc chính là khả năng tiềm tàng để nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công việc của tổ chức. Luan van 13 Quá trình tạo động lực diễn ra liên tục trong suốt quá trình hoạt động của tổ chức, đòi hỏi nhà quản lý không ngừng cố gắng, nỗ lực, liên tục theo dõi, xây dựng chính sách hoàn thiện các biện pháp tạo động lực cho người lao động với mục đích nhằm khuyến khích, động viên người lao động phát huy tối đa năng lực của mình, đây chính là trách nhiệm và là mục tiêu của nhà quản trị. Vai trò việc tạo động lực thúc đẩy cho người lao động a.
Đối với tổ chức Khuyến khích người lao động là yếu tố căn bản nhất để người lao động gắn bó với công việc và làm việc tốt hơn. Người lao động được thỏa mãn sẽ giúp họ tích cực hơn trong công việc, nâng cao hiệu quả làm việc, giảm được một số chi phí không cần thiết. Hơn nữa, một doanh nghiệp thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với người lao động sẽ giữ chân được những người có năng lực, đồng thời sẽ thu hút được những người có năng lực trên thị trường lao động. Đối với người lao động Người lao động làm việc trong một doanh nghiệp đều có những mối quan tâm và mong muốn riêng, xét trên tổng thể, việc thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn của người lao động sẽ tạo động lực và tinh thần lao động tốt và là yếu tố rất quan trọng để khuyến khích người lao động.
Chính sách thù lao lao động, công việc cảm thấy phù hợp, mối quan hệ nơi làm việc tốt, đào tạo thăng tiến và cải thiện điều kiện làm việc… của doanh nghiệp sẽ là những yếu tố tác động trực tiếp đến sự thỏa mãn của người lao động và ảnh hưởng tới hiệu quả làm việc cũng như trong cuộc sống riêng tư của họ. MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG CƠ THÚC ĐẨY Các lý thuyết về động cơ thúc đẩy luôn được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm và phát triển xuyên suốt trong trong thời gian dài vừa qua, Luan van 14 và đã hình thành rất nhiều lý thuyết. Chứng tỏ, những lý thuyết này rất quan trọng và cần thiết đối với tổ chức, tạo tiền đề quan trọng để nhà quản trị có nhiều cách tiếp cận về tạo động lực cũng như có thể ứng dụng phù hợp cho tổ chức của mình. Lý thuyết về động cơ thúc đẩy nhìn chung tập trung nhận dạng những nhu cầu của cá nhân có ảnh hưởng đến hành vi của họ ở nơi làm việc.
Đồng thời tập trung vào tiến trình tư duy của con người, quá trình tư duy này có ảnh hưởng đến quyết định thực hiện những hành động khác nhau của con người trong công việc. Sau đây luận văn xin đề cập một số lý thuyết phù hợp với đơn vị đang nghiên cứu và có những ứng dụng cụ thể của lý thuyết: 1. Lý thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow Thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow cho rằng con người được thúc đẩy bởi nhiều nhu cầu khác nhau và những nhu cầu này được phân cấp theo thứ tự. Maslow đã chia nhu cầu thành 5 cấp bậc theo một trật tự xác định từ thấp đến cao như sau: Hình 1.
Tháp 5 nhu cầu của Maslow Luan van 15 Ý nghĩa: muốn tìm hiểu mức độ tạo động lực cho người lao động thì điều quan trọng phải hiểu người lao động đang ở cấp độ nào. Để tạo động lực cho người lao động thì người quản lý phải quan tâm đến tất cả những nhu cầu, phải biết được nhu cầu nào cần thỏa mãn trước, nhu cầu nào thỏa mãn sau và tìm biện pháp để đáp ứng những nhu cầu đó một cách hợp lý nhất. Lý thuyết 2 yếu tố của F. Herzberg Đây là lý thuyết dựa trên cơ sở các yếu tố tạo nên sự thỏa mãn và không thỏa mãn của con người trong công việc.Herzberg, các yếu tố đó được chia ra làm hai nhóm: + Các yếu tố thúc đẩy (nguồn gốc của sự thỏa mãn trong công việc) + Các yếu tố duy trì (nguồn gốc của sự không thỏa mãn trong công việc) Các yếu tố duy trì Các yếu tố thúc đẩy Giám sát Thành tựu Chính sách công ty Sự công nhận Mối quan hệ với giám sát viên Bản thân công việc Điều kiện làm việc Trách nhiệm Lương Sự thăng tiến Mối quan hệ với đồng nghiệp Sự phát triển Mối quan hệ với người lao động Sự an toàn Hoàn toàn bất mãn Trung lập Hoàn toàn thõa mãn Hình 1.
Lý thuyết 2 yếu tố của F.Herzberg Ý nghĩa: từ lý thuyết ta thấy các yếu tố thúc đẩy (nằm trong công việc) sẽ thúc đẩy người lao động làm việc hăng hái hơn nhưng nếu không có thì họ vẫn làm việc bình thường; yếu tố duy trì (nằm trong môi trường làm việc) sẽ không đem lại sự hăng hái hơn, nhưng nếu không có thì người lao động sẽ bất Luan van 16 mãn và làm việc kém hăng hái hơn.