Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn. Thực trạng quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn trên địa bàn huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn trên địa bàn huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
e 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Thanh niên và thanh niên nông thôn 1. Thanh niên Thanh niên là khái niệm có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào nội dung và góc độ tiếp cận hoặc cấp độ đánh giá mà người ta đưa ra các khái niệm khác nhau về thanh niên.
Các nhà tâm tý học thường nhìn nhận thanh niên gắn với các đặc điểm tâm lý lứa tuổi và coi đó là yếu tố cơ bản để phân biệt với các lứa tuổi khác. Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn xác định trong quá trình “sinh trưởng” của cơ thể. Từ góc độ xã hội học, thanh niên được nhìn nhận là một giai đoạn xã hội hóa – thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang hoạt động độc lập với tư cách đầy đủ của một công dân, là một trong các chủ thể của các quan hệ xã hội. Dưới góc độ kinh tế học, thanh niên được xem là lực lượng lao động xã hội trẻ tuổi, nguồn bổ sung cho đội ngũ lao động trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế.
Tùy thuộc vào vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm truyền thống, tuổi thọ bình quân v. mà mỗi quốc gia có quy định độ tuổi thanh niên khác nhau. Hiện nay hầu hết các nước trên thế giới đều thống nhất tuổi thanh niên bắt đầu từ 15 hoặc 16 tuổi; nhưng tuổi kết thúc thì có nhiều khác nhau. Đa số các nước phưng Tây quy định độ tuổi kết thúc của thanh niên là 25 tuổi, một số nước như Hàn Quốc, Philippin quy định là 30 tuổi, Trung Quốc quy định là 28 tuổi,… e 12 Ở Việt Nam, độ tuổi thanh niên được quy định cụ thể tại Điều 1, Luật Thanh niên năm 2005 : “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi” [20].Thanh niên là lứa tuổi đã trưởng thành, có đầy đủ tố chất của người lớn, là thời kỳ dồi dào về trí lực và thể lực, do đó thanh niên có đầy đủ những điều kiện cần thiết để tham gia hoạt động học lập, lao động, hoạt động chính trị - xã hội đạt hiệu quả cao, có khả năng đóng góp cống hiến thể lực và trí lực cho công cuộc đổi mới đất nước.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Thanh niên: “Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc: Dân tộc bị nô lệ thì Thanh niên cũng bị nô lệ. Dân tộc được giải phóng, Thanh niên mới được tự do. Vì vậy Thanh niên phải hăng hái tham gia cuộc đấu tranh của dân tộc”.Gắn Thanh niên với vận mệnh của dân tộc, Hồ Chủ Tịch, trong nhiều bài nói và bài viết của mình đã luận giải một cách giản dị, thuyết phục rằng: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các Thanh niên.
Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc chuẩn bị cho cái tương lai đó” [17, tr.185] Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, quán triệt quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của thanh niên. Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã ban hành Nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên. Nghị quyết khẳng định: “Đảng ta tiếp tục đề cao vai trò, vị trí quan trọng của thanh niên; xác định thanh niên là lực lượng xung kích trong giai đoạn cách mạng mới”; “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thanh niên được đặt ở e 13 vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người” [10, tr.
Tóm lại, trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, để sử dụng số liệu, thông tin phù hợp với các nhóm lứa tuổi trong các báo cáo, niên giám thống kê về lao động, việc làm, thì có thể khái quát: Thanh niên được hiểu là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù có độ tuổi từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi, gắn với mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội và có mặt trên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội. Thanh niên nông thôn và đặc điểm của thanh niên nông thôn Thanh niên nông thôn là thanh niên sống ở vùng nông thôn, mà ở đó khu vực địa giới hành chính không bao gồm địa bàn phường thuộc thị xã, quận và thành phố. Có thể kể ra một số đặc điểm điển hình của thanh niên nông thôn như sau: Thanh niên nông thôn có trình độ văn hoá và chuyên môn thấp hơn so với thanh niên thành thị. Tỷ lệ thanh niên nông thôn đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp.
Thanh niên có tính năng động, tích cực, có tinh thần đổi mới và nhạy bén với sự biến động của xã hội. Lao động nông thôn nói chung và thanh niên nông thôn nói riêng mang tính thời vụ cao, đây là đặc điểm dặc thù không thể xóa bỏ được. Nguyên nhân của nét đặc thù trên là do: Việt Nam là đất nước nông nghiệp, đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng vật nuôi chúng là những cơ thể sống trong đó quá trình tái sản xuất tự nhiên và tái sản xuất kinh tế đan xen nhau. Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xóa bỏ được trong quá trình sản xuất chúng ta chỉ có thể tìm cách làm giảm tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp.
Từ đó đặt ra vấn đề cho việc sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, đặc biệt là vấn đề sử dụng lao động là thanh niên nông thôn một cách hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng. e 14 Chất lượng nguồn lao động là thanh niên nông thôn chưa cao. Nó được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật và sức khoẻ. Khả năng tiếp cận và tự tìm việc làm cho mình kém, thiếu khả năng nắm bắt và xử lý thông tin thị trường lao động.
Tình trạng không đủ việc làm, việc làm không ổn định, thu nhập thấp đã tác động rất lớn đến đời sống của thanh niên nông thôn. Thanh niên nông thôn đang đứng trước những khó khăn và thách thức như: trình độ học vấn, tay nghề, thiếu vốn, thông tin, khả năng tìm việc làm. Thanh niên nông thôn là nguồn nhân lực quan trọng trong quá trình phát triển KT -XH. Phần lớn thanh niên nông thôn hiện nay trình độ học vấn còn thấp, thiếu việc làm, ít có cơ hội được đào tạo nghề nghiệp, đặc biệt là trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp thấp.
Thực tế này đặt ra nhiệm vụ quan trọng của tổ chức Đoàn và cả hệ thống chính trị trong việc giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn. Việc làm và việc làm cho thanh niên nông thôn 1. Việc làm Việc làm là vấn đề được nghiên cứu và đề cập dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Trước đây, ở Việt Nam trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp việc làm của người lao động thường do Nhà nước giải quyết với chế độ “biên chế” suốt đời.
Người lao động có việc làm được xã hội tôn trọng và thừa nhận là những người làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp của Nhà nước, các thành phần kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể. Với quan niệm “lao động mang tính xã hội trực tiếp” Nhà nước có nhiệm vụ bố trí việc làm cho người lao động. Chính vì vậy xã hội không thừa nhận hiện tượng thất nghiệp, thiếu việc làm, lao động dôi dư hay việc làm không đầy đủ. Quan niệm đó tạo nên tâm lý ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước ở người lao động.
Trong nền kinh tế thị trường quan niệm đó đã được thay đổi về căn bản. Theo ILO thì: "Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng e 15 tiền và bằng hiện vật". Và cách nhìn mới, quan niệm mới về việc làm cũng được thể hiện và điều chỉnh bởi Bộ luật Lao động của nước CHXHCN Việt Nam - Khoản 1, Điều 9 của Luật quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm” [22]. Việc làm cần phải đáp ứng được các điều điều kiện sau: Trước hết, hoạt động đó phải mang lại thu nhập cho người lao động hoặc tạo điều kiện cho người lao động tham gia để tạo thu nhập, hoặc tiết kiệm chi phí cho gia đình.
Hoạt động tạo ra thu nhập có thể nhận diện được dưới các dạng: người lao động làm việc để nhận được tiền công, tiền lương bằng tiền hoặc bằng hiện vật từ người sử dụng lao động; tự đem lại thu nhập cho bản thân thông qua hoạt động kinh tế mà bản thân người lao động làm chủ, tự tiến hành tổ chức và tiến hành các hoạt động đó hoặc đem lại thu nhập cho hộ gia đình mà bản thân người lao động thực hiện công việc đó là thành viên của hộ gia đình, do gia đình quản lý. Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm. Một hoạt động được coi là việc làm hay không chủ yếu được dựa trên tính hợp pháp và tạo ra thu nhập của hoạt động đó. Ba là, thời gian lao động.
Người được coi là có việc làm đầy đủ khi có thời gian lao động đầy đủ tính theo tuần (40 - 48 giờ/1 tuần), theo tháng. Những trường hợp có việc làm nhưng thời gian lao động không đảm bảo theo quy định được coi là thiếu việc làm. Như vậy, trong nền kinh tế thị trường người lao động có thể làm bất cứ việc gì, ở bất cứ đâu, miễn là không vi phạm pháp luật để mang lại thu nhập và thu nhập cao hơn cho bản thân.