Tổng quan nghiên cứu

Huyện Na Rì là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Bắc Kạn, sở hữu tổng diện tích tự nhiên 85.300,00 ha, chiếm 17,54% diện tích toàn tỉnh với quy mô hành chính gồm 21 xã, 01 thị trấn và 233 thôn bản. Mặc dù công cuộc xây dựng nông thôn mới theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quyết định số 1980/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã tạo ra những chuyển biến tích cực, huyện Na Rì vẫn gặp rất nhiều khó khăn do địa hình phức tạp, giao thông cách trở và kinh tế xuất phát điểm thấp. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu nguồn lực thực hiện, khi ngân sách Nhà nước phải gánh vác tới 62,83% tổng vốn đầu tư, trong khi đóng góp từ cộng đồng dân cư đạt 37,17% và nguồn lực thu hút từ doanh nghiệp cũng như tín dụng thương mại gần như bằng 0%.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Phát triển nông thôn của tác giả Hoàng Văn Phong, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Văn Thái tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, hướng tới mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn lực xây dựng nông thôn mới, đánh giá thực trạng huy động nguồn vốn và sức lao động tại địa phương giai đoạn 2011 - 2018, đồng thời phân tích các yếu tố cản trở để đề xuất các giải pháp khả thi cho giai đoạn tiếp theo. Phạm vi nghiên cứu được triển khai tập trung trên địa bàn 03 xã đại diện là Kim Lư, Hảo Nghĩa và Xuân Dương, sử dụng dữ liệu sơ cấp năm 2018 cùng hệ thống số liệu thứ cấp giai đoạn 2017 - 2018. Kết quả của luận văn mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp căn cứ xác đáng giúp chính quyền huyện Na Rì đa dạng hóa các nguồn tài chính, nâng tỷ lệ đạt chuẩn 19 tiêu chí nông thôn mới và thúc đẩy phát triển kinh tế vùng cao bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết hệ thống về nguồn lực kinh tế - xã hội kết hợp với việc đúc kết các bài học kinh nghiệm phát triển nông thôn điển hình trên thế giới và tại Việt Nam. Trọng tâm lý thuyết là mô hình Phong trào Làng mới (Saemaul Undong) của Hàn Quốc giai đoạn 1971 - 1978 với phương châm cốt lõi: Nhà nước hỗ trợ 1 phần vật tư ban đầu, nhân dân đóng góp từ 5 đến 10 phần công sức và tiền của, qua đó giúp Hàn Quốc cứng hóa thành công 43.631 km đường liên xã và nâng tỷ lệ hộ nông thôn có điện sinh hoạt lên 98%. Bên cạnh đó, phong trào "Mỗi làng một sản phẩm" (OVOP) tại tỉnh Oita, Nhật Bản từ thập niên 1970 và chiến lược tái cơ cấu ngành nông nghiệp của Thái Lan (nơi dân số nông thôn chiếm khoảng 80%) cũng cung cấp bài học quan trọng về phát huy nội lực bản địa và bảo hiểm rủi ro nông nghiệp.

Về mặt khái niệm, luận văn làm rõ các thuật ngữ cốt lõi bao gồm: Mô hình nông thôn mới theo chuẩn 5 nhóm và 19 tiêu chí quốc gia; Nguồn lực xây dựng nông thôn mới bao gồm nguồn nhân lực, vật lực, tài lực và nguồn thông tin; và Cơ chế huy động nguồn lực thông qua đa dạng hóa các kênh đầu tư, kết hợp lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia như Chương trình 135, chính sách giảm nghèo bền vững và nguồn vốn trái phiếu Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp đồng bộ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp (báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội, số liệu thực hiện 19 tiêu chí của UBND huyện Na Rì và Ban Chỉ đạo nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2018) và dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa trong năm 2018. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích với cỡ mẫu điều tra bao gồm các hộ gia đình nông dân và đội ngũ cán bộ quản lý tại 03 xã điểm: xã Kim Lư (vùng thấp, điều kiện kinh tế tương đối thuận lợi), xã Hảo Nghĩa (khu vực núi đá) và xã Xuân Dương (địa bàn đặc biệt khó khăn). Việc lựa chọn 3 xã này đảm bảo tính đại diện cao cho toàn bộ 21 xã của huyện về đặc điểm địa lý, trình độ dân trí và tiềm năng kinh tế.

Phương pháp phân tích dữ liệu chủ đạo là thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ lệ phần trăm và tổng hợp các bảng cân đối thu chi trên phần mềm Excel. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm định lượng hóa chính xác tỷ trọng đóng góp của từng luồng vốn, đo lường sự biến động của ngày công lao động và đánh giá mức độ tham gia ý kiến của người dân, từ đó tạo cơ sở thực chứng vững chắc cho việc nhận diện các điểm nghẽn trong tiến trình huy động nguồn lực từ năm 2011 đến định hướng 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu huy động nguồn lực tại địa phương bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng. Tại 03 xã nghiên cứu trong giai đoạn 2011 - 2018, tổng nguồn vốn huy động phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách Nhà nước cấp chiếm 62,83%, nguồn vốn huy động đóng góp từ cộng đồng dân cư chiếm 37,17%, trong khi tỷ trọng vốn thu hút từ các doanh nghiệp và vốn tín dụng thương mại đạt mức 0%.

Thứ hai, địa hình tự nhiên hiểm trở là rào cản kỹ thuật và kinh tế lớn nhất. Toàn huyện có tới 81.999 ha đất địa thành vùng đồi núi (chiếm 96,13% diện tích tự nhiên) với độ dốc phổ biến từ 20 đến 60 độ, khiến chi phí đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng giao thông và thủy lợi tăng cao gấp 1,5 đến 2 lần so với vùng đồng bằng, trực tiếp làm chậm tiến độ hoàn thành tiêu chí giao thông nông thôn.

Thứ ba, sự tham gia đóng góp của người dân có xu hướng thay đổi rõ rệt theo thời gian. Trong giai đoạn đầu, nhân dân tích cực hiến đất và tài sản trên đất để mở rộng đường trục thôn, nhưng ở các giai đoạn sau, mức đóng góp giảm dần và chủ yếu chuyển sang đóng góp ngày công lao động do thu nhập bình quân đầu người của các hộ dân còn thấp, khó duy trì các khoản đóng góp tiền mặt thường xuyên.

Thứ tư, công tác lồng ghép các nguồn vốn từ Chương trình 135, chương trình kiên cố hóa kênh mương và ngân sách sự nghiệp còn thiếu tính đồng bộ, chưa tạo được cơ chế liên kết mềm dẻo giữa các cấp quản lý.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phụ thuộc tới 62,83% vào ngân sách Nhà nước phản ánh đúng đặc điểm của một huyện miền núi vùng cao với tỷ lệ hộ nghèo còn cao và kinh tế nông nghiệp hàng hóa chưa phát triển mạnh. Khi đối chiếu với các địa phương lân cận như huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (nơi tỷ lệ đạt chuẩn chung đạt 38,46% với 15/39 chỉ tiêu hoàn thành năm 2018) hay huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (nơi thu nhập bình quân tăng vọt lên trên 18 triệu đồng/người/năm và 100% hộ dân sử dụng nước sạch), Na Rì gặp thách thức vượt trội về quy mô tích lũy nội tại và khả năng mời gọi vốn ngoài ngân sách.

Trong các báo cáo phân tích, các bảng biểu cân đối nguồn vốn và biểu đồ cơ cấu đầu tư thể hiện trực quan khoảng cách rất lớn giữa nhu cầu vốn thực tế giai đoạn 2016 - 2020 và khả năng đáp ứng của địa phương. Việc người dân đóng góp tới 37,17% tổng nguồn lực chủ yếu qua ngày công và hiện vật chứng minh rằng sự minh bạch, công khai dân chủ cơ sở theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra chính là động lực sống còn để duy trì sức dân trong điều kiện nguồn lực tài chính công hạn hẹp.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tạo bước đột phá trong việc huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới tại huyện Na Rì giai đoạn 2020 - 2025, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Tăng cường tuyên truyền và nâng cao nhận thức cộng đồng: UBND huyện Na Rì phối hợp cùng Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể (Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân) đẩy mạnh truyền thông cơ sở, phấn đấu nâng tỷ lệ người dân hiểu rõ nội dung và trách nhiệm xây dựng nông thôn mới lên trên 90% trước năm 2022.
  • Hoàn thiện cơ chế thu hút đầu tư doanh nghiệp và tín dụng: Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới huyện Na Rì cần xây dựng chính sách ưu đãi về mặt bằng và thuế, tạo môi trường thuận lợi để mời gọi các doanh nghiệp liên kết chuỗi giá trị nông sản, đặt mục tiêu nâng tỷ trọng vốn doanh nghiệp và tín dụng lên tối thiểu 10% đến 15% tổng nguồn lực vào năm 2025.
  • Thực hiện cơ chế lồng ghép nguồn vốn linh hoạt: UBND các xã và Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện cần chủ động lồng ghép nguồn vốn từ Chương trình 135, trái phiếu Chính phủ và các chương trình hỗ trợ có mục tiêu; đồng thời bảo đảm thực hiện đúng quy định để lại tối thiểu 70% tiền thu từ đấu giá quyền sử dụng đất cho ngân sách cấp xã để tái đầu tư hạ tầng nông thôn.
  • Chuẩn hóa đội ngũ cán bộ và nâng cao năng lực giám sát: Phòng Nội vụ huyện Na Rì chủ trì tổ chức các khóa tập huấn nghiệp vụ quản lý dự án cho 100% cán bộ cấp xã và ban chỉ đạo thôn bản trước năm 2023; củng cố hoạt động của Ban Giám sát đầu tư cộng đồng nhằm bảo đảm 100% các công trình hạ tầng được thi công minh bạch, đúng tiến độ và đạt chất lượng quy định.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Lãnh đạo và cán bộ quản lý cấp huyện, xã: Cung cấp cẩm nang thực tiễn về kỹ năng phân bổ nguồn vốn, phương pháp lập kế hoạch đầu tư công trung hạn và quy trình vận động nhân dân hiến đất làm đường phù hợp với địa bàn miền núi.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Quản lý kinh tế: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo khoa học giá trị về phương pháp điều tra thực địa, kỹ thuật xử lý dữ liệu khảo sát và khung phân tích chính sách huy động vốn cấp cơ sở.
  • Các hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp: Cung cấp bức tranh toàn diện về tiềm năng đất đai với hơn 81.999 ha đất đồi núi và đặc điểm lực lượng lao động tại 21 xã, làm căn cứ xây dựng phương án liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản.
  • Các tổ chức phi chính phủ và chuyên gia dự án phát triển: Hỗ trợ nắm bắt chính xác mức độ sẵn sàng tham gia của 233 thôn bản, từ đó thiết kế các chương trình tài trợ sinh kế và phát triển hạ tầng quy mô nhỏ đạt hiệu quả tối ưu.

Câu hỏi thường gặp

  • Cơ cấu nguồn vốn xây dựng nông thôn mới tại huyện Na Rì có điểm gì đặc thù? Nguồn vốn tại huyện Na Rì phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách Nhà nước với tỷ lệ 62,83%, nguồn đóng góp của nhân dân chiếm 37,17%, trong khi tỷ lệ huy động từ doanh nghiệp và tín dụng thương mại đạt 0%.

  • Địa hình tự nhiên ảnh hưởng như thế nào đến việc huy động nguồn lực tại Na Rì? Huyện có tới 96,13% diện tích là đồi núi (81.999 ha) với độ dốc cao từ 20 đến 60 độ, khiến chi phí đầu tư xây dựng các tuyến đường giao thông và công trình thủy lợi tăng gấp 1,5 đến 2 lần so với vùng đồng bằng.

  • Người dân tại 03 xã khảo sát tham gia đóng góp nguồn lực qua các hình thức nào? Tại các xã Kim Lư, Hảo Nghĩa và Xuân Dương, người dân đóng góp chủ yếu bằng việc hiến đất làm đường, giải tỏa cây cối hoa màu và tham gia ngày công lao động trực tiếp do mức thu nhập tiền mặt còn hạn chế.

  • Bài học kinh nghiệm quốc tế nào có giá trị ứng dụng cao nhất cho huyện Na Rì? Kinh nghiệm từ phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc về phương châm Nhà nước hỗ trợ vật tư, cộng đồng tự chủ bàn bạc và trực tiếp thi công là giải pháp tối ưu giúp Na Rì bù đắp sự thiếu hụt ngân sách.

  • Tỷ lệ nguồn thu từ đất để lại cho ngân sách cấp xã được quy định tối thiểu là bao nhiêu? Theo các văn bản quy định hướng dẫn thực hiện chương trình, tỷ lệ vốn thu được từ đấu giá quyền sử dụng đất hoặc cho thuê đất để lại cho ngân sách cấp xã đạt tối thiểu 70% để phục vụ xây dựng nông thôn mới.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở khoa học và thực tiễn về cơ chế huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới tại địa bàn vùng cao đặc thù.
  • Khảo sát thực chứng chỉ rõ cơ cấu vốn giai đoạn 2011 - 2018 gồm 62,83% từ ngân sách và 37,17% từ sức dân tại 03 xã điểm Kim Lư, Hảo Nghĩa và Xuân Dương.
  • Nhận diện các rào cản then chốt từ 85.300,00 ha địa hình chia cắt phức tạp và sự vắng bóng của các dòng vốn doanh nghiệp, tín dụng.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động đồng bộ nhằm mục tiêu huy động từ 10% đến 15% vốn ngoài ngân sách và chuẩn hóa 100% cán bộ cơ sở trong lộ trình 2020 - 2025.
  • Khẳng định vai trò chủ thể cốt lõi của nhân dân 21 xã và 01 thị trấn trong việc hoàn thiện và nâng cao chất lượng 19 tiêu chí nông thôn mới bền vững.

Bạn đọc và các nhà quản lý quan tâm có thể tiếp tục nghiên cứu toàn văn công trình luận văn thạc sĩ chuyên ngành Phát triển nông thôn của tác giả Hoàng Văn Phong để khai thác chi tiết hệ thống bảng biểu thống kê và mô hình giải pháp thực tiễn.