CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề cơ bản về năng lực giao tiếp toán học 1. Khái niệm năng lực Thuật ngữ “năng lực” lần đầu xuất hiện vào năm 1959 trong một bài báo của R.
Theo tác giả, năng lực giống như một khái niệm về động lực thực hiện. Vào năm 1973, thuật ngữ “năng lực” đã thu hút được sự chú ý khi David McClelland viết một bài báo có tựa đề "Kiểm tra năng lực thay vì trí thông minh". Bài báo đã định hình khái niệm về “năng lực” như một yếu tố tách biệt với trí thông minh và khuyến khích xã hội chú ý vào năng lực của con người thay vì chỉ chú ý vào tư duy. Vào năm 1999, Howard Gardner – một nhà tâm lí học phát triển người Mỹ đã phát biểu: “Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được” [15, tr.
Điều này cho thấy, năng lực gắn liền với hoạt động của con người và các mức độ đánh giá năng lực sẽ được xây dựng trên biểu hiện hoạt động của con người.Weinert phát biểu tại Hội nghị chuyên đề về những năng lực cơ bản: “Năng lực là những kĩ năng kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [20, tr. Kế đó, năm 2002, Tổ chức các nước kinh tế phát triển OECD đã xác định “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” [19, tr. Những nhận định này đã góp phần làm sáng rõ khái niệm về năng lực, thúc đẩy việc sử dụng thuật ngữ “năng lực” trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là lĩnh vực khoa học – giáo dục. Ở Việt Nam, theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Năng lực là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” hoặc “phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một 9 loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [14].
Có thể thấy rằng, cách định nghĩa thuật ngữ “năng lực” trong từ điển Tiếng Việt có bao hàm rất nhiều đặc trưng về năng lực đã được các nhà khoa học quốc tế nghiên cứu và công nhận trước đó. Theo CT GDPT tổng thể 2018 do Bộ GD&ĐT ban hành, khái niệm năng lực được xem là “thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. Khái niệm này đã có sự kế thừa và làm sáng rõ hơn các thành tố của năng lực, có chức năng tạo nền tảng, cơ sở lí luận vững chắc để xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực cho người học.
Như vậy, việc định nghĩa “năng lực” có sự thay đổi qua từng thời kì và ngày càng được hoàn thiện hơn. Đặc biệt, theo CT GDPT tổng thể 2018, khái niệm về năng lực được phân tích một cách kĩ lưỡng và sáng rõ hơn cả: năng lực bao gồm những thuộc tính con người sẵn có và những thuộc tính có được thông qua quá trình rèn luyện, học tập; là kết quả của sự tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, hứng thú, niềm tin…. và được thể hiện ra thông qua việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định. Cấu trúc năng lực Có nhiều cách để phân chia cấu trúc các nhóm năng lực.
Theo các nhà sư phạm nghề Đức, cấu trúc của năng lực hành động là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: năng lực cá thể, năng lực xã hội, năng lực chuyên môn và năng lực phương pháp. Đối với các nước OECD, cấu trúc năng lực lại đơn giản hơn, bao gồm 2 thành phần chính là: năng lực chung và các năng lực chuyên môn. Trong CT GDPT 2018 tại Việt Nam có quy định rõ cấu trúc năng lực bao gồm 10 loại năng lực cốt lõi và chia thành 2 nhóm: Năng lực chung và năng lực đặc thù. Đề tài chủ yếu đi vào phân tích loại cấu trúc này vì đây là cấu trúc 10 có mối quan hệ chặt chẽ với nội dung nghiên cứu của tôi.
Theo đó, có thể hiểu rằng: - Năng lực chung là nhóm năng lực có cơ hội hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học, các hoạt động giáo dục và các hoạt động sống thường ngày của con người. Đồng thời, năng lực chung cũng chính là nền tảng cho mọi hoạt động của con người, có tác động đến tất cả các lĩnh vực và công việc mà con người tham gia. Nhóm năng lực chung bao gồm 3 loại năng lực: Tự chủ và tự học; Giao tiếp và hợp tác; Giải quyết vấn đề và sáng tạo. - Năng lực đặc thù là loại năng lực gắn kết với đặc trưng của từng môn học, từng lĩnh vực, được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo hướng chuyên sâu.
Khác với năng lực chung, năng lực đặc thù có sự tác động trong phạm vi hẹp hơn và được xem như một dạng năng khiếu, giúp người học khám phá ra sở trường và sở đoản của bản thân để có kế hoạch phát triển, cải thiện và định hướng nghề nghiệp tương lai. Năng lực đặc thù bao gồm những năng lực sau: Ngôn ngữ; Tính toán; Tin học; Thể chất; Thẩm mĩ; Công nghệ; Tìm hiểu tự nhiên và xã hội. Từ các năng lực trên, khi vận dụng vào quá trình dạy học, Bộ GD&ĐT đã đưa ra các năng lực cụ thể cần phát triển thông qua từng môn học. Đối với môn Toán, CT GDPT 2018 quy định rõ các năng lực toán học cần phát triển cho học sinh là 5 năng lực sau: + Năng lực tư duy và lập luận toán học + Năng lực giải quyết vấn đề toán học + Năng lực mô hình hóa toán học + Năng lực giao tiếp toán học + Năng lực sử dụng các công cụ, phương tiện học toán.
Có thể thấy, dựa vào các năng lực đặc thù của môn Toán, GV đã được định hướng những tiêu chuẩn đánh giá HS một cách toàn diện hơn so với CT GDPT 2000. Theo đó, điểm số không còn là yếu tố quyết định hoàn toàn kết 11 quả học tập của HS mà GV sẽ đi sâu vào xem xét, đánh giá quá trình học tập của từng em dựa trên những biểu hiện về các năng lực toán học. Năng lực giao tiếp toán học a. Khái niệm giao tiếp Trước khi đề cập đến năng lực giao tiếp, cần làm rõ về thuật ngữ “giao tiếp”.
Giao tiếp là một nhu cầu thiết yếu của con người, là yếu tố cơ bản, là công cụ tạo nên xã hội loài người văn minh và phát triển. Vì vậy, việc nghiên cứu về giao tiếp nói chung và năng lực giao tiếp của con người là rất quan trọng và cần thiết.A Leeonchev – một nhà tâm lí học - cho rằng: “giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ đảm bảo sự tương tác giữa người này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các mối quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng phương tiện đặc thù mà trước hết là ngôn ngữ.” [12] Các nhà giáo dục Nguyễn Trí, Phan Phương Dung đề cập tới giao tiếp như một mối liên kết giữa con người với con người, thể hiện sự tiếp xúc trong xã hội loài người và thông qua mối quan hệ này, con người trao đổi với nhau các thông tin, cảm xúc đồng thời tri giác, tác động qua lại lẫn nhau. Tóm lại, giao tiếp là phương thức gắn kết xã hội loài người. Thông qua giao tiếp, chúng ta trình bày, diễn giải và truyền đạt những suy nghĩ, quan điểm, hiểu biết, tình cảm của bản thân với các cá thể khác trong xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau để đạt được một mục đích nào đó.
Công cụ hữu dụng nhất của giao tiếp là ngôn ngữ. Có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ luôn có 5 yếu tố sau: mục đích, nội dung, nhận vật tham gia, phương tiện và hoàn cảnh giao tiếp. Khái niệm năng lực giao tiếp toán học Dựa vào khái niệm về giao tiếp, năng lực giao tiếp có thể hiểu là khả năng, mức độ thành thạo khi sử dụng các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin về các phương diện của đời sống xã hội trong 12 từng bối cảnh/ ngữ cảnh cụ thể, nhằm đạt đến một mục đích nhất định trong việc thiết lập mối quan hệ giữa con người với nhau trong xã hội. [16] Theo chương trình GDPT 2018, năng lực giao tiếp vừa là năng lực chung cần phát triển, vừa là năng lực đặc thù cần được quan tâm trong các môn học, trong đó có môn Toán.
Với môn học này, năng lực giao tiếp được gọi bằng một thuật ngữ cụ thể hơn là “năng lực giao tiếp toán học” (NLGTTH) NLGTTH là khả năng người học sử dụng ngôn ngữ toán học để diễn đạt, trình bày, trao đổi, giải thích, chứng minh được ý tưởng của mình về các vấn đề toán học với người khác thông qua quá trình phân tích thông tin (nghe, nói, đọc, viết) một cách chính xác, rõ ràng [3]. Tác giả Đặng Thị Thủy cho rằng năng lực giao tiếp toán học (GTTH) là “khả năng sử dụng số, ký hiệu, hình ảnh, biểu đồ, sơ đồ, từ ngữ để hiểu và tiếp nhận đúng các thông tin hay trình bày, diễn đạt ý tưởng, giải pháp, nội dung toán học và sự hiểu biết của bản thân bằng lời nói, bằng ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ và bằng văn bản phù hợp với đối tượng giao tiếp. Đồng thời thể hiện được sự tự tin khi trình bày, diễn đạt, trao đổi, thảo luận các nội dung, ý tưởng toán học”[19]. Có thể thấy rằng, những khái quát của tác giả về NLGTTH rất đầy đủ, bao quát và đây cũng chính là khái niệm NLGTTH tôi sử dụng làm cơ sở, nền tảng để tiếp tục nghiên cứu trong đề tài này.
Sự cần thiết của việc phát triển năng lực giao tiếp toán học cho học sinh trong dạy học yếu tố hình học ở lớp 4, lớp 5 1.