Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về dạy học tích hợp, dạy học tích hợp liên môn. Chương 2: Xây dựng và tổ chức dạy học theo hướng tích hợp chương “Điện từ học” và Công nghệ. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP, DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN 1.
Các khái niệm về “Khoa học” và “Công nghệ” 1. Khái niệm “Khoa học” Khoa học là một khái niệm có nội hàm phức tạp, tùy theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận, ta có thể phân tích ở nhiều khía cạnh khác nhau. Ở mức độ chung nhất, khoa học được hiểu như sau: - Khoa học là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực khách quan, tạo ra hệ thống chân lý về thế giới. Hệ thống chân lý này được diễn đạt bằng khái niệm, phạm trù trừu tượng, những nguyên lý khái quát, những giả thuyết, học thuyết… Khoa học phản ánh thế giới bằng các phương thức và công cụ đặc biệt.
Khoa học không những hướng vào giải thích thế giới mà còn hướng đến cải tạo thế giới. Khoa học làm cho con người mạnh mẽ trước thiên nhiên, làm chủ được các quy luật biến đổi của tự nhiên để bắt thiên nhiên phục vụ cho cuộc sống của con người. Những luận điểm, các nguyên lý của khoa học là hệ thống chân lý khách quan, chúng đều có thể chứng minh được bằng các phương pháp khác nhau. Chân lý khoa học chỉ có một, nó được thực tiễn trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm nghiệm, xác minh và khẳng định.
Thực tiễn cuộc sống không những là nguồn gốc, tiêu chuẩn của nhận thức mà còn là nhân tố kích thích sự phát triển của khoa học. Khoa học không có giới hạn trong sự phát triển, vì tư duy của con người không có giới hạn trong nhận thức. Khoa học không ngừng tiếp cận chân lý, luôn tìm cách khám phá thế giới một cách toàn diện, sâu sắc và tạo ra hệ thống tri thức ngày càng chính xác, phong phú và đầy đủ hơn. Vì vậy, khoa học luôn phát triển và hoàn thiện cùng với sự phát triển của khả năng nhận thức của con người và trình độ phát triển của lịch sử xã hội.
- Khoa học là một hệ thống tri thức về thế giới khách quan. Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, về xã hội và tư duy về những quy luật phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy, hệ thống tri thức này là kết quả của quá trình nhận thức có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp và phương tiện đặc biệt, do đội ngũ các nhà khoa học thực hiện được hình thành trong lịch sử và không ngừng phát 7 triển trên cơ sở thực tiễn xã hội. - Khoa học là một hoạt động xã hội đặc biệt được hiểu là hoạt động nghiên cứu khoa học, là quá trình phát minh sáng tạo ra tri thức mới cho nhân loại. Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới,… về tự nhiên và xã hội.
Những kiến thức hay học thuyết mới này tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp. Ví dụ: quan niệm thực vật là vật thể không có cảm giác được thay thế bằng quan niệm thực vật có cảm nhận. Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về qui luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội và tư duy. Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội.
Phân biệt ra 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học. Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích luỹ qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên. Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội. Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế.
Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người. Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học. Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động NCKH, các họat động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học. Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên.
Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (discipline) như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,. Con đường thực hiện theo phương pháp khoa học trong dạy học Vật lí Việc thực hiện theo phương pháp khoa học sẽ đi từ quan sát cấu tạo của đối tượng kĩ thuật đã có sẵn hoặc những hiện tượng từ tự nhiên để tìm hiểu, giải thích 8 nguyên nhân, nguyên tắc hoạt động của nó dựa trên các định luật của khoa học. Tiến trình nghiên cứu con đường này gồm các giai đoạn chính sau: Giai đoạn 1: Quan sát thiết bị máy đã có cho vận hành hoặc các hiện tượng tự nhiên và xác định chính xác tác động ở đầu vào và kết quả thu được ở đầu ra. Kết quả thu được ở đầu ra chính là mục đích sử dụng của máy hoặc kết quả của hiện tượng.
Kết thúc giai đoạn này GV đưa ra một câu hỏi dưới dạng “tại sao?”. Giai đoạn 2: Quan sát thiết bị để xác định cấu tạo bên trong của nó, phân tích điều kiện xảy ra hiện tượng làm rõ các yếu tố có liên quan trong việc tạo ra hiện tượng hoặc tương tác với nhau trong khi vận hành. Giai đoạn 3: Giải thích nguyên tắc hoạt động của thiết bị máy móc/ giải thích nguyên nhân tạo ra hiện tượng. Ta phải chọn một định luật, quy tắc làm cơ sở xuất phát.
Sau đó thực hiện một số suy luận logic đi từ những tác động ở đầu vào và đến kết quả cuối cùng ở đầu ra. Trong giai đoạn này, đặc biệt quan trọng là việc thực hiện đúng những phép suy luận. Nếu sau khi kiểm tra các phép suy luận không thấy phạm một sai lầm nào mà kết quả lại không phù hợp với đầu ra thực, thì phải chọn lại định luật xuất phát và thực hiện các phép suy luận mới. Cụ thể khi dạy các ứng dụng kĩ thuật vật lí theo con đường này thực chất là giải bảo toàn hộp trắng: Biết đầu vào, đầu ra, cấu tạo bên trong của hộp, hãy giải thích tại sao đầu vào thế này, nhờ thiết bị lại cho đầu ra như vậy? Để đưa ra lời giải thích đúng, điều quan trọng trước tiên là học sinh phải xác định được điều cần giải thích.
Đây là con đường phổ biến đang được áp dụng trong dạy học truyền thống trong các bài học vật lí về các thiết bị kỹ thuật. Chủ yếu là giảng giải – minh họa, HS lắng nghe, thông hiểu, ghi nhớ và khi cần thì tái hiện lại. 9 Quan sát thiết bị khi vận hành/ hiện tượng tự nhiên Xác định mục đích sử dụng/ kết quả hiện tượng Đặt câu hỏi “Tại sao” Quan sát, phân tích cấu tạo/ các yếu tố của hiện tượng Giải thích Chọn định luật/ quy tắc làm cơ sở Suy luận logic Kiểm tra Sai Đúng Kết luận Hình 1. Sơ đồ khối thực hiện quy trình khoa học 10 1.
Khái niệm “công nghệ” Công nghệ gồm 4 phần: kỹ thuật (máy móc, thao tác,.), thông tin (bí quyết, tài liệu hướng dẫn,.), con người (tay nghề, kỹ năng, kỹ xảo), tổ chức (quản lý, điều hành,. Con đường thực hiện theo phương pháp công nghệ trong dạy học Vật lí Dựa trên định luật vật lí vừa học, thiết kế một dụng cụ, máy móc nhằm giải quyết một yêu cầu kĩ thuật nào đó. Con đường này thực chất là sự sáng chế một thiết bị máy móc dùng trong kĩ thuật. Ở đây, hiện tượng vật lí và các định luật vật lí đã được biết dưới dạng tổng quát, yêu cầu là phải tìm ra một thiết bị có cấu tạo thích hợp để tạo ra hiện tượng vật lí đáp ứng được một số yêu cầu cụ thể của sản xuất và đời sống.
Đây là con đường dạy học sáng tạo, HS được đặt vào vị trí là nhà khoa học để tái phát minh ra thiết bị. Mô hình DHDA là sự hiện thực hóa dạy học ứng dụng kỹ thuật của vật lý theo con đường này. Vấn đề cần giải quyết Xác định yêu cầu/ mục tiêu cho sản phẩm Lên ý tưởng thiết kế, chọn nguyên vật liệu Chế tạo sản phẩm Vận hành Kiểm tra, đánh giá sản phẩm Hình 1. Sơ đồ khối thực hiện quy trình công nghệ 11 1.
Quy trình khoa học – công nghệ Quá trình nghiên cứu ra các lý thuyết khoa học được gọi là quy trình khoa học, quá trình vận dụng các lý thuyết khoa học để tạo ra các công cụ phục vụ cho con người gọi là quy trình công nghệ. Từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, hai lĩnh vực khoa học – công nghệ dường như khá độc lập với nhau. Nhưng cùng với sự phát triển của nền văn minh nhân loại, nhu cầu phải giải thích những hiện tượng tự nhiên và hoạt động của thế giới xung quanh do con người tạo ra ngày càng tăng lên. Khi cả hai phía khoa học trong tìm hiểu thế giới tự nhiên và công nghệ trong hoạt động thực tiễn đã mở rộng phạm vi hoạt động của mình, chúng đã cọ sát và tương tác với nhau thường xuyên hơn và đã có những đóng góp, bổ sung cho nhau.
Công nghệ đã đóng góp cho sự phát triển của khoa học thông qua các con đường: Một là, cung cấp các phương tiện và công cụ tốt hơn cho nghiên cứu khoa học và có thể ảnh hưởng đáng kể đến sự hình thành của các lý thuyết khoa học mới; Hai là, bản thân việc sáng tạo ra các phương pháp mới cũng có thể tạo ra những thách thức mới cho các nhà khoa học đi tìm ra các lý thuyết khoa học mới.