Luận văn thạc sĩ dạy học chủ đề hệ thức vi ét và ứng dụng nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh trung học cơ sở

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu phương pháp dạy học chủ đề hệ thức Vi-ét, ứng dụng rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh THCS hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

117
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương này tập trung vào việc phân tích vai trò của tự học trong giáo dục, đặc biệt là trong bối cảnh dạy học môn Toán ở trường Trung học cơ sở. Tự học không chỉ là một phương pháp học tập mà còn là một yếu tố quyết định sự phát triển của học sinh. Theo nhiều nghiên cứu, tự học giúp học sinh phát huy khả năng tư duy độc lập, khơi dậy tiềm năng sáng tạo và hình thành nhân cách. Việc rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh là cần thiết để họ có thể tự lực chiếm lĩnh tri thức và ứng dụng vào thực tiễn. Đặc biệt, trong bối cảnh giáo dục hiện đại, tự học trở thành cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học, giúp học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn phát triển khả năng giải quyết vấn đề và sáng tạo.

1.1. Vai trò của tự học và một số nghiên cứu về tự học

Nghiên cứu cho thấy tự học là yếu tố quyết định trong việc phát triển bản thân người học. Tự học không chỉ giúp học sinh tiếp cận tri thức mà còn là phương thức để khắc phục những hạn chế của giáo dục truyền thống. Việc rèn luyện kỹ năng tự học giúp học sinh hình thành thói quen học tập tích cực, từ đó nâng cao hiệu quả học tập. Tự học cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nhân cách, giúp học sinh trở nên chủ động, độc lập và kiên trì. Hơn nữa, tự học còn là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học, tạo điều kiện cho học sinh phát triển khả năng nghiên cứu và ứng dụng kiến thức vào thực tiễn.

1.2. Thực trạng dạy học chủ đề Hệ thức Vi ét và ứng dụng ở trường THCS

Chủ đề “Hệ thức Vi-ét và ứng dụng” là một phần quan trọng trong chương trình Toán học ở trường Trung học cơ sở. Tuy nhiên, thực trạng dạy học chủ đề này cho thấy nhiều học sinh gặp khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức. Giáo viên thường chỉ cung cấp kiến thức mà không khuyến khích học sinh tự học và khám phá. Điều này dẫn đến việc học sinh không phát huy được kỹ năng tự học của mình. Để cải thiện tình hình, cần có những biện pháp dạy học phù hợp nhằm khuyến khích học sinh chủ động trong việc học tập và rèn luyện kỹ năng tự học.

II. Một số biện pháp dạy học chủ đề Hệ thức Vi ét và ứng dụng

Chương này đề xuất một số biện pháp dạy học nhằm tăng cường kỹ năng tự học cho học sinh thông qua chủ đề “Hệ thức Vi-ét và ứng dụng”. Các biện pháp này bao gồm việc giáo viên gợi động cơ học tập, tạo hứng thú cho học sinh, và tổ chức các hoạt động tự học. Việc xây dựng hệ thống bài tập phân bậc và sử dụng công nghệ thông tin cũng được nhấn mạnh như những công cụ hỗ trợ hiệu quả cho tự học. Những biện pháp này không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn phát triển khả năng tự học, từ đó nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán.

2.1. Gợi động cơ và tạo hứng thú tự học

Một trong những biện pháp quan trọng là giáo viên cần gợi động cơ và tạo hứng thú cho học sinh khi dạy học chủ đề “Hệ thức Vi-ét và ứng dụng”. Việc khơi dậy sự tò mò và niềm đam mê học tập sẽ giúp học sinh chủ động hơn trong việc tìm hiểu và nghiên cứu. Giáo viên có thể sử dụng các tình huống thực tiễn để minh họa cho kiến thức, từ đó giúp học sinh thấy được giá trị của việc học. Hơn nữa, việc khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động nhóm cũng sẽ tạo ra môi trường học tập tích cực, giúp các em phát triển kỹ năng tự học.

2.2. Tổ chức hướng dẫn học sinh tự kiểm tra đánh giá

Giáo viên cần tổ chức các hoạt động tự kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh. Việc này không chỉ giúp học sinh nhận thức được mức độ hiểu biết của bản thân mà còn tạo cơ hội để các em tự điều chỉnh phương pháp học tập. Học sinh có thể được khuyến khích tự đánh giá qua các bài kiểm tra nhỏ hoặc các hoạt động nhóm. Điều này sẽ giúp các em phát triển kỹ năng tự học, đồng thời nâng cao khả năng tự nhận thức và tự điều chỉnh trong quá trình học tập.

III. Thực nghiệm sư phạm

Chương này trình bày kết quả thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp dạy học đã đề xuất. Thực nghiệm được thực hiện tại một số trường Trung học cơ sở với sự tham gia của giáo viên và học sinh. Kết quả cho thấy việc áp dụng các biện pháp dạy học này đã giúp học sinh nâng cao kỹ năng tự học và cải thiện kết quả học tập. Đặc biệt, học sinh đã thể hiện sự chủ động hơn trong việc tìm hiểu và ứng dụng kiến thức vào thực tiễn.

3.1. Kế hoạch và đối tượng thực nghiệm

Thực nghiệm sư phạm được thực hiện với sự tham gia của hai nhóm học sinh: nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. Kế hoạch thực nghiệm bao gồm việc áp dụng các biện pháp dạy học đã đề xuất trong một khoảng thời gian nhất định. Các hoạt động được thiết kế nhằm khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập, từ đó phát triển kỹ năng tự học. Kết quả thu được từ thực nghiệm sẽ được so sánh giữa hai nhóm để đánh giá hiệu quả của các biện pháp dạy học.

3.2. Kết quả thực nghiệm và đánh giá

Kết quả thực nghiệm cho thấy nhóm học sinh thực nghiệm có sự tiến bộ rõ rệt trong việc nắm vững kiến thức và phát triển kỹ năng tự học. Các em đã thể hiện khả năng tự nghiên cứu và ứng dụng kiến thức vào thực tiễn tốt hơn so với nhóm đối chứng. Điều này chứng tỏ rằng việc áp dụng các biện pháp dạy học phù hợp có thể nâng cao hiệu quả dạy và học môn Toán, đồng thời phát triển kỹ năng tự học cho học sinh.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề chung về tự học 1. Vai trò của tự học và một số nghiên cứu về tự học 1. Vai trò của tự học Qua tham khảo một số tài liệu như [40]; [44]; [4]; [7]; [29]; [34]; ., chúng tôi thấy: + Tự học là nội lực, là yếu tố quyết định sự phát triển của bản thân người học: Tự học có thể xem là quá trình người học tự lực chiếm lĩnh tri thức và biến nó thành tài sản của riêng mình, còn dạy học dù là vô cùng quan trọng nhưng vẫn chỉ là ngoại lực, hỗ trợ cho người học phát triển.

Cho dù giáo viên có dạy tốt đến mấy nhưng người học chưa nhận thức, chứ tự ý thức phải học thì chưa thể nói đến dạy học hiệu quả. Do đó, sức tự học của trò mới là nội lực, nhân tố quyết định sự phát triển bản thân người học. + Tự học đóng vai trò là một công cụ hữu hiệu trong việc khắc phục sự mâu thuẫn về sự vô hạn của học vấn với giới hạn của học đường: Ngày nay với tốc độ phát triển nhanh chóng khoa học và kĩ thuật kéo theo khối lượng tri thức ngày càng tăng. Để theo kịp bước tiến của xã hội thì cần phải học rất nhiều, nhưng nhà trường không thể dạy tất cả, môi trường học đường chỉ là nơi cung cấp cho người học những tri thức căn bản, tối thiểu cần thiết trong một khoảng thời gian nhất định.

Người học biết cách tự học mới có thể tiếp cận, cập nhật tri thức, trong bối cảnh khoa học kĩ thuật phát triển nhanh chóng ngày nay. + Tự học khơi dậy được NL tiềm ẩn của người học: Nếu rèn luyện cho người học kĩ năng, phương pháp, thói quen tự học, biết ứng dụng những điều đã học vào những tình huống mới, biết tự lực phát hiện và giải quyết những vấn đề gặp phải thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi con người. Trong dạy học ở trường phổ thông, làm được như vậy thì kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội, người học có thể tiếp tục tự học khi vào đời. + Tự học hình thành nhân cách con người với những đức tính quý báu: như tính chủ động, độc lập, nhẫn nại, kiên trì, bền bỉ, lòng ham hiểu biết,.

5 + Tự học là một phương thức đào tạo góp phần bổ sung kiến thức cho con người: Biết tự học là thường xuyên tích lũy được tri thức, không bị lạc hậu mà tri thức nhân loại vô cùng rộng lớn, biển học không bến bờ, tự học là nhu cầu chính của thời đại. + Tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học: đây là cơ sở để người học tiếp cận với thói quen, cách thức và khả năng nghiên cứu khoa học. + Tự học phát huy nội lực và NL hành động của con người: giúp người học sử dụng được tối đa hóa những kiến thức sẵn có của mình để làm cơ sở khám phá và chiếm lĩnh những tri thức mới, từ đó hình thành kỹ năng vận dụng và óc sáng tạo của người học. Tìm hiểu về tự học qua một số thời kì ở nước ta Theo tiến trình lịch sử, giáo dục Việt Nam có những chuyển biến xuyên suốt qua các thời kỳ.

Ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau thì quan niệm, cách thức và kết quả tự học cũng có những thay đổi nhất định. a) Trước Cách Mạng tháng Tám: - Từ thời phong kiến, do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, điều kiện kinh tế, chính trị xã hội và văn hóa giáo dục nước ta đều bị ảnh hưởng. Việc tự học được thực hiện một cách máy móc, kĩ năng chủ yếu là ghi nhớ, học thuộc lòng, thầy dạy gì học đó, thầy là trung tâm và luôn đúng. - Thời Pháp thuộc, do chế độ áp bức bóc lột tàn bạo với những thủ đoạn cai trị thâm độc, nền giáo dục nước ta bị kìm nén, trì trệ.

Với chính sách "ngu dân" thì giáo dục Việt Nam hầu như rất kém phát triển, chủ yếu dành cho một số ít đối tượng thuộc tầng lớp trên. Vì vậy, vào thời kỳ trước Cách Mạng tháng Tám, hầu hết dân số Việt Nam mù chữ. Do đó người dân chủ yếu buộc phải tự học một cách tự phát, mày mò, học lẫn nhau khi họ đối mặt với những công việc hàng ngày trong cuộc sống lao động. mà vấn đề tự học chưa được bàn đến như một lý luận giáo dục trong các nhà trường.

b) Sau Cách Mạng tháng Tám thành công: Đảng Cộng sản Việt Nam và các lãnh tụ Việt Nam rất quan tâm đến giáo dục, trong đó có vấn đề tự học: 6 - Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng chính cuộc đời của mình là tấm gương sáng ngời về tinh thần tự học, rèn luyện, trong lao động, sáng tạo … Người chỉ rõ vai trò của học tập, tự rèn luyện đối với mỗi người cách mạng với câu nói “Còn sống thì còn phải học” rất giản dị mà thiết thực ([25, tr. Với toàn dân, Bác luôn động viên: “Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành cho được, do đó phải tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập” ([25, tr. Tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta vận dụng và là quan điểm chỉ đạo đổi mới giáo dục: Trong nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VIII (tháng 6/1996); Nghị quyết TW II khoá VIII (tháng 12/1996) ghi rõ: “Tập trung sức, nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra NL tự học, sáng tạo của sinh viên, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, phát triển mạnh phong trào tự học - tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân. Quan điểm đó tiếp tục được Đảng ta chú trọng trong Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học.

Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên .Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển NL .41] - Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng (1906 - 2000) luôn coi trọng phương pháp tự học, tự nghiên cứu. Ông luôn mong muốn: “Trong nhà trường, điều chủ yếu không phải là nhồi nhét cho học trò một mớ kiến thức hỗn độn, tuy rằng kiến thức là cần thiết. Điều chủ ý là giáo dục cho học trò phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp diễn tả, rồi đến phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết vấn đề ”. (theo [20]) 7 Về mặt quản lý Nhà nước, trong Điều 40 của Luật Giáo dục nước CHXHCN Việt Nam (công bố ngày 27/6/2005) ghi rõ: “Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, NL tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kĩ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng”.2 của “Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010” (Ban hành kèm theo Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ) ghi rõ: “Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục.

Chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển NL của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh, sinh viên trong quá trình học tập, .” Qua tìm hiểu một số công trình nghiên cứu cho thấy vấn đề tự học và dạy tự học được triển khai theo những mục đích và cách thức tiếp cận khác nhau. Cụ thể: - Về bản chất của quá trình DH: Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn (một tấm gương sáng về tự học ở nước ta: Từ một giáo viên trung học, bằng con đường tự học, tự nghiên cứu, ông đã trở thành một nhà toán học, nhà giáo dục nổi tiếng ở Việt Nam và trên thế giới). Giáo sư đã nghiên cứu quá trình DH và và vạch rõ bản chất “Cốt lõi của học là tự học. Hễ có học là có tự học vì không ai có thể học hộ người khác được”.

Nhiệm vụ của chúng ta là “biến quá trình dạy học thành quá trình tự học” [39]. - Về tính tất yếu của tự học: Tác giả Nguyễn Văn Đạo đã khẳng định: “Tự học là việc tất yếu đối với mỗi con người và là công việc suốt cả cuộc đời. Những điều kiện cơ bản, cần thiết cho việc tự học của một người có thể tóm tắt như sau: Thứ nhất, tự học phải là công việc tự giác của mỗi người. Khi tự học đã trở thành việc tự giác thì mọi khó khăn dành cho việc tự học đều có thể vượt qua, như: thiếu thời gian, thiếu tài liệu sách vở, thiếu các điều kiện khác.

Thứ hai, để tự học có kết quả cần có nền kiến thức cơ bản vững và thông thạo vài ngoại ngữ. Thứ ba, cần có phương pháp tự học tốt” ([21, tr. 8 Cũng như vậy đối với, tác giả Nguyễn Duy Cần ([4]) đã viết về sự cần thiết, phương pháp tự học theo cách tiếp cận sắm vai người tự học để vận động mọi người thường xuyên tự học. Tác giả Nguyễn Hiến Lê ([27]) thì bàn về tự học như là một nhu cầu tất yếu của thời đại, một vấn đề cần thiết đối với mọi người trong cuộc sống.

- Về ưu thế và vai trò của tự học: Tác giả Nguyễn Kỳ khẳng định: “Tự học, tự đào tạo - con đường phát triển tối ưu. Con đường phát triển tối ưu là con đường 3 nhất: chất lượng cao nhất, quy mô lớn nhất, hệ thống hợp nhất ”. Ông cho rằng: “Chiếc gậy thần” để làm cho giáo dục Việt Nam tăng tốc từ “ba thấp” đến “ba nhất” là truyền thống tự học, sáng tạo của dân tộc, là khoa học tự học”. Ông khẳng định tự học là nội lực của giáo dục: “.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Dạy Học Chủ Đề Hệ Thức Vi-ét Và Ứng Dụng Rèn Luyện Kỹ Năng Tự Học Cho Học Sinh THCS là một nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp giảng dạy hệ thức Vi-ét trong chương trình toán học cấp THCS. Tài liệu này không chỉ giúp giáo viên hiểu rõ hơn về cách truyền đạt kiến thức liên quan đến hệ thức Vi-ét mà còn tập trung vào việc rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh, từ đó nâng cao hiệu quả học tập và phát triển tư duy toán học. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến đổi mới phương pháp dạy học và phát triển năng lực học sinh.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp dạy học toán hiệu quả, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn dạy học giải quyết vấn đề chủ đề phương trình bậc hai và một số bài toán liên quan, nghiên cứu này cung cấp cách tiếp cận sáng tạo trong việc giải quyết các bài toán phương trình bậc hai. Ngoài ra, Dạy học chủ đề hàm số ở trung học cơ sở theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn cũng là một tài liệu đáng đọc, giúp bạn hiểu rõ hơn về cách phát triển năng lực học sinh thông qua chủ đề hàm số. Cuối cùng, Ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học chủ đề tam giác bằng nhau theo hướng phát triển năng lực giao tiếp toán học cho học sinh lớp 7 sẽ mang đến góc nhìn mới về việc sử dụng sơ đồ tư duy trong giảng dạy toán học. Hãy khám phá thêm để làm phong phú kiến thức của bạn!