Mở đầu là những mô tả đầu tiên về thiên nhiên của Hans Sachs (1537), e 15 Frankfurt (1556), các công trình nghiên cứu về ĐKTN, phục vụ khai thác, sử dụng lãnh thổ lần lượt ra đời, đáng kể nhất là công trình kinh điển của V.Docusaev là Học thuyết về các đới thiên nhiên (còn gọi là đới lịch sử - tự nhiên).Docusaev, có rất nhiều nghiên cứu về ĐKTN, từ đặc điểm các hợp hợp phần riêng lẻ, cho đến thể tổng hợp TN và cao nhất là cảnh quan học của các nhà địa lý kinh điển ở Nga và các nước Âu, Mỹ với nhiều quan điểm và trường phái nghiên cứu khác nhau như: G. Với số lượng lớn các công trình nghiên cứu, nội dung, phương pháp và hướng tiếp cận đa dạng ở cả Châu Âu, Bắc Mỹ, việc nghiên cứu, đánh giá về ĐKTN, CQ đã mang lại hiệu quả to lớn cho việc khai thác, sử dụng lãnh thổ gắn với bảo vệ TN. Đặc biệt với xu thế hiện nay, cùng với các vấn đề cấp bách về môi trường, việc nghiên cứu đặc điểm TN không chỉ dừng lại ở các yếu tố, lãnh thổ riêng lẻ mà đòi hỏi nghiên cứu TN vùng lãnh thổ một cách toàn diện, trên cơ sở tiếp cận liên ngành, liên vùng và liên quốc gia. Sự phát triển về phương pháp nghiên cứu gắn với khả năng tiếp cận dữ liệu và thông tin không gian nhờ công nghệ viễn thám, hệ thống thông tin địa lí (GIS), đã chuyển các nghiên cứu TN thiên về định tính (mô tả) sang định lượng và mô hình hóa cho nhiều lĩnh vực quy hoạch hóa lãnh thổ.
Kết quả của những nghiên cứu này không chỉ cống hiến cho khoa học địa lí mà góp phần phục vụ cho phát triển KT-XH. Ở Việt Nam Ở nước ta, việc nghiên cứu đánh giá các ĐKTN theo hướng cảnh quan ứng dụng cho mục đích nông - lâm nghiệp bắt đầu từ thập niên 1960 - e 16 1970, như “Sơ đồ phân vùng địa lí tự nhiên Miền Bắc Việt Nam” của Tổ phân vùng địa lý tự nhiên tổng hợp - Uỷ ban Khoa học Nhà nước. Điển hình gần đây là công trình “Đánh giá tổng hợp 3 tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lâm Đồng cho mục đích nông - lâm nghiệp, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” của Phạm Hoàng Hải và CTV; Nguyễn Ngọc Khánh “Nghiên cứu cảnh quan thượng nguồn sông Cầu phục vụ phân vùng môi trường”. Trong các công trình này, trên cơ sở hệ thống các nguyên tắc đánh giá tiềm năng TN, thông qua các bước đánh giá riêng từng hợp phần TN đến đánh giá tổng hợp dựa trên đặc điểm của các đơn vị lãnh thổ CQ.
Các chỉ tiêu được chọn là các đặc điểm đặc thù của vùng có liên quan đến ngành sản xuất nông - lâm nghiệp. Phương pháp đánh giá bằng thang điểm tổng hợp được áp dụng để phân cấp các vùng thuận lợi hoặc ít thuận lợi cho hai ngành sản xuất nông và lâm nghiệp. Theo hướng sinh thái CQ, các công trình như "Nghiên cứu cải tạo, sử dụng hợp lý hệ sinh thái vùng gò đồi Bình - Trị - Thiên" (1990) là đại diện, trong đó các chỉ tiêu sinh thái (như nhiệt độ, độ ẩm, đất, độ dốc.) cho một số loài cây trồng được lựa chọn để đánh giá các mức độ thích hợp. Dưới góc độ phân vùng địa lý TN, các nhà địa lý tiến hành phân vùng lãnh thổ nghiên cứu, từ đó xác định một cách khái quát nhất phương hướng sử dụng lãnh thổ.
Trong các công trình này, các đơn vị lãnh thổ tương đối đồng nhất về một số chỉ tiêu nào đó, với những đặc điểm nhất định về tài nguyên được sử dụng làm đơn vị cơ sở cho quy hoạch vùng và sử dụng tổng hợp lãnh thổ. Kiểu đánh giá phổ biến hiện nay là đánh giá mức độ thuận lợi của các ĐKTN, tài nguyên thiên nhiên cho các dạng khai thác khác nhau. Trên cơ sở phân chia lãnh thổ ra các cảnh quan hoặc các cấp nhỏ e 17 hơn. Đánh giá chung có được bằng cách cộng điểm các đánh giá riêng, Nguyễn Thế Tôn (1994) đã thực hiện “Đánh giá điều kiện tự nhiên đối với các đối tượng nuôi trồng ở huyện Quỳnh Lưu”, cũng trên cơ sở phân chia lãnh thổ ra các cảnh quan và đánh giá chung.
Những nghiên cứu đánh giá tổng hợp cả ĐKTN và điều kiện KT-XH có đề tài độc lập cấp Nhà nước của GS.TS Trần Nghi làm chủ nhiệm “Đánh giá tổng hợp tài nguyên, điều kiện tự nhiên, môi trường, kinh tế - xã hội nhằm định hướng phát triển bền vững khu vực biên giới phía Tây từ Thanh Hóa đến Kon Tum” - Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Hay luận án Tiến sĩ của TS. Lê Năm (2004), “Đánh giá điều kiện tự nhiên phục vụ quy hoạch phát triển sản xuất nông lâm nghiệp vùng đồi núi tỉnh Thừa Thiên - Huế”, trường ĐHSP Hà Nội. Bùi Thị Minh Nguyệt (2004), đã “Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên cho phát triển bền vững huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh”, Luận văn thạc sĩ, Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội… Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về phương pháp, chỉ tiêu cũng như lựa chọn đơn vị cơ sở đánh giá.
Những công trình này đã đóng góp vào việc hình thành các quan điểm nghiên cứu, xác định cách tiếp cận của đề tài trên nguyên tắc và quan điểm địa lý ứng dụng trong đánh giá tổng hợp ĐKTN. Đánh giá ĐKTN cho phát triển CAQ cũng đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như: “Thực trạng và một số giải pháp nhằm phát triển CAQ theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang” Đề tài NCKH của tác giả Trần Đình Tuấn (2008). Đề án: “Phát triển CAQ tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên giai đoạn e 18 2016 - 2020” của Phòng Nông nghiệp và PTNT (2019). Nghiên cứu này đánh giá thực trạng về kết quả, hiệu quả kinh tế và phát triển CAQ trên địa bàn huyện Khoái Châu, trong đó tập trung vào nhóm CAQ chủ lực: nhãn chín muộn, chuối tiêu hồng, cây có múi.
Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển CAQ theo hướng hàng hóa trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Năm 2013 tác giả Nguyễn Thị Hồng Nhung đã thực hiện đề tài“Phát triển CAQ tỉnh Vĩnh Long theo hướng bền vững”, trường ĐH Sư phạm TP. Trên cơ sở vận dụng những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển CAQ, đề tài tập trung phân tích hiện trạng phát triển CAQ của tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2001 - 2011. Từ đó, đề xuất các định hướng và giải pháp phát triển CAQ của tỉnh Vĩnh Long theo hướng bền vững đến năm 2020.
Năm 2014 tác giả Nguyễn Trần Nhật Tiến đã thực hiện đề tài “Phát triển CAQ chủ lực tỉnh Tiền Giang: Hiện trạng và giải pháp”, trường ĐH Sư phạm TP. Nghiên cứu đã tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển ngành CAQ, áp dụng vào địa bàn nghiên cứu, xác định các CAQ chủ lực của tỉnh Tiền Giang, phân tích và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng cũng như hiện trạng phát triển CAQ chủ lực của tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2000 - 2012. Cuối cùng, xây dựng định hướng và đề xuất các giải pháp phát triển CAQ tỉnh Tiền Giang đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Khu vực nghiên cứu Gia Lai là một tỉnh thuộc Tây Nguyên có nhiều nét đặc trưng cho khu vực cao nguyên của Việt Nam.
Có nhiều công trình nghiên cứu với từng hợp phần TN như: địa chất, địa mạo, tài nguyên nước mặt, tài nguyên nước dưới đất, tài nguyên sinh vật…cho tỉnh Gia Lai hoặc vùng Tây Nguyên. Điển hình có các nghiên cứu: - Nghiên cứu về địa hình, địa mạo: một số các công trình nghiên cứu e 19 trong chương trình Tây Nguyên 2, Tây Nguyên 3 của các tác giả: Lê Đức An, Nguyễn Văn Chiển đã thành lập bản đồ địa mạo của Tây Nguyên tỷ lệ 1: 250.000 có ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong công tác nghiên cứu các hợp phần của TN, phục vụ cho việc đánh giá, định hướng phát triển về mặt không gian, lãnh thổ cụ thể. - Nghiên cứu về địa chất, khoáng sản: Trung tâm Nghiên cứu Môi trường Địa chất – Đại học Mỏ Địa chất đã thành lập bản đồ địa chất của Gia Lai tỷ lệ 1:200. Bản đồ địa chất đã nghiên cứu các hệ tầng, đứt gãy, các điểm mỏ, điểm quặng tại khu vực này.
Ngoài ra, Sở Công nghiệp tỉnh Gia Lai năm 2001 có đề tài nghiên cứu “Hiện trạng nguồn tài nguyên khoáng sản tỉnh Gia Lai (số mỏ và điểm quặng)”. Các nghiên cứu về địa chất và khoáng sản đã chỉ ra được những điểm mỏ, quặng có khả năng khai thác, trữ lượng và thành phần… Đối với nghiên cứu về thổ nhưỡng: Các tác giả như: Cao Liêm, Nguyễn Bá Nhuận, Viện Nông hóa và Thổ nhưỡng đã thành lập bản đồ đất tỉnh Gia Lai 1:100.000 với 7 nhóm và 16 loại đất. Từ nghiên cứu này phân tích, đánh giá và phân loại đất dựa theo các tiêu chí chủ yếu như: tầng dày, độ dốc, thành phần cơ giới…Trần Kông Tấu, 2009 cũng đã có nghiên cứu và đánh giá chung về tài nguyên đất Việt Nam. Đối với nghiên cứu về khí hậu: đã có nhiều công trình nghiên cứu từ trước đến nay, có thể kể đến như các tác giả: Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu, 1988 đã nghiên cứu về khí hậu Tây Nguyên.
Ngoài ra, còn có một số tác giả như: Nguyễn Khanh Vân (2000, 2015) xây dựng bản đồ sinh khí hậu Tây Nguyên (tỷ lệ 1:250.000) phục vụ xác lập mô hình kinh tế sinh thái bền vững. Năm 2003, Liên đoàn Địa chất Thủy văn, Địa chất Miền Trung đã có nghiên cứu “Đánh giá cân bằng nước và định hướng sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Gia Lai”.