Đặt vấn đề Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt không có gì có thể thay thế được của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là các nguồn lợi tự nhiên như khí hậu, thời tiết nước, không khí, khoáng sản nằm trong lòng đất, sinh vật sống trên bề mặt trái đất thậm trí cả sinh vật sống trong lòng đất. Quá trình phát triển kinh tế, quá trình đô thị hóa làm cho mật độ dân cư ngày càng tăng. Chính sự gia tăng dân số, sự phát triển đô thị và qua trình công nghiệp hóa làm cho nhu cầu về nhà cũng như đất xây dựng các khu công trình công cộng, khu công nghiệp trong cả nước vốn đã “bức xúc” nay càng trở nên “nhức nhối” hơn. Đây là vấn đề nan giải không chỉ ở nước ta mà còn với các nước đang phát triển và phát triển trên thế giới.
Để giải quyết vấn đề này mỗi quốc gia đều phải xây dựng cho mình những chương trình, kế hoạch, chiến lược riêng phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của mình để sử dụng đất đai được hợp lý, hiệu quả tiết kiệm. Đặc biệt là đối với nước ta - một nước mà quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên khắp cả nước. Từ năm 1945 khi thành lập nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho đến nay, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, Nhà nước ta luôn quan tâm thích đáng đến vấn đề đất đai và đã ban hành, đổi mới luật đất đai: luật đất đai 1988, luật đất đai 1993; luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật đất đai 1993 năm 1998, năm 2001; Đặc biệt luật đát đai năm 2003 chính thúc có hiệu lực ngày 01/07/2004 đã từng bước đưa pháp luật đất đai phù hợp với thực tế quản lý và sử dụng đất. các văn bản, thông tư, nghị định.,đi kèm đã giúp rất nhiều n 2 cho việc nắm chắc, quản lí chặt chẽ quỹ đất đai của quốc gia cũng như sự phù hợp với sự hát triển của nên kinh tế đất nước trong thời kì đổi mới.
Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn xã Cốc San, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai giúp chúng ta có cái nhìn chi tiết về tình hình quản lý, sử dụng đất cơ cấu đất đai của từng loại đất từ đó đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, được sự phân công của Khoa Quản lý Tài nguyên - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Khắc Thái Sơn, em đã chọn thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai tại xã Cốc San, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011-2013” 1. Mục tiêu , yêu cầu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu cụ thể - Nghiên cứu cơ sở lý luận và những căn cứ pháp lý của công tác quản lý Nhà nước về đất đai.
- Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của xã Cốc San. - Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn xã Cốc San theo 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai quy định tại luật đất đai năm 2003. - Đánh giá tình hình sử dụng các loại đất của xã Cốc San. - Đề xuất một số biện pháp nhằm phát huy các vấn đề tích cực, hạn chế các vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý sử dụng đất đai, giúp cơ quan quản lý nhà nước quản lý chặt che nguồn tài nguyên đất.2 Yêu cầu nghiên cứu của đề tài - Nắm được các quy định của nhà nước đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai.
Đặc biệt là 13 nội dung quy định tại điều 6 luật đất đai. - Hiểu và vận dụng tốt các quy trình, quy phạm, văn bản pháp luật về công tác quản lý nhà nước về đất đai. n 3 - Các số liệu điều tra, thu thập chính xác, đầy đủ, phản ánh trung thực khách quan công tác quản lý nhà nước về đất đai ở địa phương. - Đưa ra những kiến nghị, đề xuất phù hợp với thực tế, mang tính khả thi cao.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của công tác quản lý nhà nước về đất ai 2.1 Cơ sở lý luận của công tác quản lý nhà nước về đất đai • Khái niệm về đất đai “Đất đai” về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy…), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (sau nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa,…)”. • Các nhân tố tác động đến việc sử dụng đất - Con người: Là nhân tố chi phối chủ yếu trong quá trình sử dụng đất. Đối với đất nông nghiệp thì con người có vai trò rất quan trọng tác động đến đất làm tăng độ phì của đất. - Điều kiện tự nhiên: Việc sử dụng phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng như: địa hình, thổ nhưỡng, ánh sáng, lượng mưa…Do đó chúng ta phải xem xét điều kiện tự nhiên của mỗi vùng để có biện pháp bố trí sử dụng đất phù hợp.
- Nhân tố kinh tế xã hội: Bao gồm chế độ xã hội, dân số, lao động, chính sách đất đai, cơ cấu kinh tế,… Đây là nhóm nhân tố chủ đạo và có ý nghĩa đối với việc sử dụng đất bởi vì phương hướng sử dụng đất thường được quyết định bởi yêu cầu xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định, điều kiện kỹ thuật hiện có, tính khả thi, tính hợp lý, nhu cầu của thị trường. n 5 - Nhân tố không gian: Đây là một trong những nhân tố hạn chế của việc sử dụng đất mà nguyên nhân là do vị trí và không gian của đất không thay đổi trong quá trình sử dụng đất. Vì vậy, trong quá trình sử dụng đất phải biết tiết kiệm, hợp lý, hiệu quả, đảm bảo phát triển tài nguyên đất bền vững. • Khái niệm về quản lý nhà nước Quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hoá nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định.
Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, do các cơ quan trong hệ thống quản lý hành chính từ Chính phủ ở Trung ương xuống Ủy ban nhân dân các cấp ở địa phương tiến hành. Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai. Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007) [7]. • Nội dung quản lý nhà nước về đất đai Theo luật đất đai 2003 công tác quản lý nhà nước về đất đai gồm 13 nội dung cụ thể sau: - Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đất đai - Xác địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính.
n 6 - Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất - Quản lý quy hạch, kế hoạch sử dụng đất. - Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất. - Đăng kí quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. - Công tác thống kê, kiểm kê đất đai.
- Quản lý tài chính về đất đai. - Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản. - Quản lý và giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. - Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
- Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại tố cáo các vi phạm trong quản lý và sử dụng đất đai. - Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai. Cơ sở pháp lý của công tác quản lý Nhà nước về đất đai Dựa trên hệ thống luật đất đai, văn bản dưới luật là cơ sở vững nhất Hệ thống văn bản Pháp luật về đất đai bao gồm: • Luật đất đai 2003 • Luật kinh doanh bất dộng sản 2006 • Luật sửa đổi bổ sung điều 126 của luật nhà ở và điều 121 của luật đất đai ngày 18/06/2009. • Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành luật đất đai.
• Nghị định số 182/2004/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. n 7 • Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất. • Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai. • Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 109/10/2009 của chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.