Mở đầu Phần B: Nội dung gồn có ba chƣơng, cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc đánh giá chƣơng trình đào tạo hệ Trung cấp nghề May tại trƣờng Cao Đẳng nghề Cần Thơ. -5- Chƣơng 2: Cơ sở thực tiễn của việc đánh giá chƣơng trình đào tạo hệ Trung cấp nghề May tại trƣờng Cao Đẳng nghề Cần Thơ. Chƣơng 3: Đánh giá chƣơng trình đào tạo hệ Trung cấp nghề May tại trƣờng Cao Đẳng nghề Cần Thơ. Phần C: Kết luận – Kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục -6- Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1.
Khái niệm các thuật ngữ 1. Mô hình đánh giá 1. Phƣơng pháp đánh giá 1. Kỹ thuật đánh giá 1.
Tiêu chí đánh giá -7- PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRUNG CẤP NGHỀ MAY TẠI TRƢỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CẦN THƠ 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu: 1.Tính thời sự về vấn đề nghiên cứu: Việc đánh giá chất lƣợng, hiệu quả đào tạo là việc tất yếu phải làm trong giáo dục ở nhiều nƣớc phát triển trên thế giới và trong khu vực, nhằm đảm bảo và không ngừng nâng cao chất lƣợng giáo dục. Ở nhiều nƣớc, công việc này đƣợc tiến hành dựa trên các tiêu chí chuẩn do chính các cơ quan và hiệp hội đánh giá chất lƣợng hoặc chính Bộ Giáo Dục đề ra. Ở Hoa Kỳ, có 6 hiệp hội kiểm định chất lƣợng vùng và 5 tổ chức kiểm định chất lƣợng cấp quốc gia.
Ngoài ra Hoa Kỳ còn có 43 Hiệp hội khẳng định chất lƣợng chuyên ngành. Tại Pháp, Hội đồng Đánh giá quốc gia (CNE) đƣợc thành lập năm 1985, là cơ quan trực thuộc Tổng thống để thực hiện đánh giá tổng thể nhà trƣờng 8 năm một lần và đánh giá ngành học theo chiều ngang đƣợc triển khai trong cả nƣớc về một lĩnh vực chuyên môn nào đó. Năm 1997, Cơ quan đảm bảo chất lƣợng giáo dục đại học Anh Quốc (QAAHE) đƣợc thành lập với một bộ đánh giá chung theo 10 nội dung: hoạt động nghiên cứu sau đại học; hoạt động liên kết; cung ứng giáo dục cho ngƣời học có năng lực khác nhau; đánh giá bên ngoài; phản hồi của ngƣời học; đánh giá ngƣời học; theo dõi xem xét các chƣơng trình đào tạo; thông tin, tƣ vấn và hƣớng dẫn nghề nghiệp; tuyển sinh; xếp lớp. Năm 2000 Hệ thống đảm bảo chất lƣợng giáo dục đại học (European Network for Quality Assurance in Higher Education) đƣợc thành lập và đến năm 2004 đổi tên thành Hiệp hội đảm bảo chất lƣợng giáo dục đại học Châu Au -8- (European Association for Quality Assurance in Higher Education – EAQAHE).
Hiệp hội đề ra bộ Tiêu chuẩn và Hƣớng dẫn đảm bảo chất lƣợng trong giáo dục Châu Au vào năm 2005 mà nhiệm vụ chính của Hiệp hội là đề ra các tiêu chuẩn trong đánh giá nội bộ và đánh giá từ bên ngoài; đồng thời Hiệp hội cũng xác định các tiêu chuẩn cho các cơ quan đảm bảo chất lƣợng bên ngoài. Hội đồng kiểm định chất lƣợng giáo dục Mỹ (CHEA) là cơ quan liên bang phi chính phủ đƣợc thành lập năm 1997. Hội đồng không tham gia trực tiếp việc kiểm định mà là cơ quan công nhận các tổ chức kiểm định. Kiểm định đƣợc tiến hành qua tự đánh giá, đánh giá chéo và đánh giá bên ngoài qua các tổ chức kiểm định.
Định kỳ sau 5 – 7 năm việc kiểm định đƣợc tiến hành trở lại. Cơ quan đánh giá chất lƣợng đại học của Úc (AUQA) đƣợc thành lập năm 2000 nhƣng không xây dựng bộ đánh giá chuẩn chung cho toàn hệ thống. Mỗi trƣờng xây dựng bộ đánh giá riêng theo sứ mạng và mục tiêu từng trƣờng. Cách đánh giá dựa trên tự đánh giá, đánh giá chéo và sự kiểm tra của cơ quan kiểm định.
Tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dƣơng, nhiều nƣớc cũng đã chú ý xây dựng hệ thống đảm bảo chất lƣợng giáo dục đại học. Năm 2003, Hệ thống chất lƣợng Châu Á – Thái Bình Dƣơng (Asia- Pacific Quality Network) đƣợc thành lập với mục đích tăng cƣờng sự hợp tác giữa các cơ quan kiểm định quốc gia và đẩy mạnh việc công nhận ở bình diện khu vực trong những lĩnh vực về chƣơng trình đào tạo. Trung Quốc bắt đầu đánh giá các trƣờng đại học từ năm 1993. Việc đánh giá tiến hành theo ba nhóm trƣờng: nhóm trƣờng mới thành lập, nhóm trƣờng đã phát triển tốt và nhóm trƣờng trung bình.
Mỗi nhóm trƣờng có các tiêu chí đánh giá khác nhau. Indonesia thành lập Hội đồng kiểm định Quốc gia (NAB) trực thuộc Bộ trƣởng Bộ Giáo dục từ năm 1994. NAB chỉ đánh giá chƣơng trình đào tạo, không đánh giá trƣờng học. Từ năm 1982 Hàn Quốc đã thành lập Hội đồng Giáo dục đại học Hàn Quốc (KCUE) và triển khai đánh giá các trƣờng hai vòng đầu theo chu kỳ 5 năm : 1982 – 1986 và 1988 – 1992.
Tiếp theo, Hàn Quốc lập Uy ban Công nhận kiểm định đại học (UARC) triển khai đánh giá vòng ba cho đến năm 2000. Hàn -9- Quốc triển khai đánh giá chƣơng trình đào tạo từ năm 1992 và mỗi năm đánh giá 2 – 3 khoa. Ở Việt Nam, cho đến nay đã có các bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lƣợng chƣơng trình giáo dục do Bộ GDĐT ban hành: 1-chƣơng trình giáo dục ngành giáo dục tiểu học trình độ cao đẳng, 2-chƣơng trình đào tạo GV THPT trình độ đại học, 3-chƣơng trình giáo dục SPKT CN trình độ đại học. Ngoài ra, còn có bộ tiêu chuẩn đánh giá chƣơng trình của VEF và bộ tiêu chuẩn đánh giá chƣơng trình giáo dục của hai ĐHQG Tp.HCM và ĐHQG Hà Nội.
Các cơ sở này đã triển khai đánh giá chƣơng trình theo bộ tiêu chuẩn của mình và đã thu đƣợc các kết quả bƣớc đầu. Tháng 10/2011 Cục Khảo thí và Kiểm định chất lƣợng giáo dục thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa phát hành Tài liệu hƣớng dẫn tự đánh giá chƣơng trình giáo dục sƣ phạm kỹ thuật công nghiệp trình độ đại học. Để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc thì nguồn nhân lực là yếu tố mang tính quyết định. Quá trình đào tạo nhân lực, đặc biệt là các trƣờng dạy nghề đóng một vai trò quan trọng.
Đại hội Đảng toàn quốc lần IX đã khẳng định rõ: “Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ. Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề”. Đó là quan điểm đúng đắn của Đảng ta. Đó cũng là đòi hỏi, là nhu cầu mà thực tiễn cuộc sống đang đặt ra cho hệ thống giáo dục nói chung và dạy nghề nói riêng.
Bởi lẽ, đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ cho phát triển! Theo quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lƣợng giáo dục ban hành kèm theo quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT có đề cập đến việc “Nói không với đào tạo không đạt chuẩn”. Để làm đƣợc điều này, đòi hỏi ngành giáo dục phải có tƣ duy mới, phù hợp với xu hƣớng của thời đại. Điểm trung tâm của những nỗ lực phát triển nguồn nhân lực đựơc mọi ngƣời nhất trí và chú trọng tập trung là “Học tập, nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ”. Bằng việc chú trọng vào nâng cao chất lƣợng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, quan điểm giáo dục dựa trên năng lực là rất phổ biến hiện nay.
- 10 - Đại hội Đảng lần thứ X đã một lần nữa khẳng định để “Nâng cao chất lƣợng, hiệu quả giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực” cần “Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao” Cụ thể là “Phát triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động lực và cho xuất khẩu lao động… Tạo chuyển biến căn bản về chất lƣợng dạy nghề, tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới. Đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích phát triển các hình thức dạy nghề đa dạng, linh hoạt: dạy nghề ngoài công lập, tại doanh nghiệp, tại làng nghề…; tạo điều kiện cho ngƣời lao động học nghề, lập nghiệp. Sự quan tâm của Đảng, Nhà nƣớc, sự chỉ đạo của Chính phủ và sự cố gắng của các cấp, các ngành trong thời gian qua, công tác dạy nghề đã từng bƣớc đƣợc đổi mới và phát triển đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp phục vụ phát triển kinh tế- xã hội. Hệ thống và mạng lƣới dạy nghề đã bắt đầu đƣợc đổi mới và phát triển, chuyển từ hệ thống dạy nghề trình độ thấp với hai cấp trình độ đào tạo sang hệ thống dạy nghề với ba cấp trình độ đào tạo: sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề.
Các cơ sở dạy nghề đƣợc phát triển theo quy hoạch rộng khắp trên toàn quốc, đa dạng về hình thức sở hữu và loại hình đào tạo. Quy mô dạy nghề trong những năm qua tăng nhanh đã nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ 13,4% năm 2001 lên khoảng 24% năm 2007, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động. Các cơ sở dạy nghề đã mở thêm nhiều nghề đào tạo mới mà thị trƣờng lao động có nhu cầu. Cùng với việc đào tạo các nghề phục vụ cho các doanh nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất các cơ sở dạy nghề đã tổ chức đào tạo các nghề phục vụ cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và giải quyết việc làm cho ngƣời lao động.
Việc dạy nghề đƣợc phát triển với các mô hình dạy nghề năng động, linh hoạt gắn đào tạo với sử dụng lao động theo hƣớng đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng lao động để đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, từng địa phƣơng. Một số đề tài nghiên cứu trong và ngoài nƣớc có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Ở nƣớc ngoài, năm 1991 Hiệp hội các trƣờng Đại học Hà Lan tiến hành một cuộc đánh giá chƣơng trình quốc tế công nghệ Điện (International Programme Review Electrical Engineering – IPR-EE). Ở trong nƣớc, năm 1999, nhóm nghiên cứu của trƣờng đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh do PGS.Tiến sĩ Đỗ Huy Thịnh chủ đề tài đã tiến hành nghiên cứu đề tài cấp bộ: “Đánh giá hiệu quả đào tạo và hiệu quả sử dụng đội ngũ nhân lực tốt nghiệp của trƣờng Đại học Nông lâm giai đoạn 1975 – 2000”.