MỞ ĐẦU Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Chương 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 4 Luan van Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về đào tạo nghề và đào tạo nghề kế toán. Khái niệm đào tạo nghề: Từ điển tiếng Việt (1998) đưa ra định nghĩa “Nghề là công việc chuyên làm, theo sự phân công của xã hội”.
Ở Nga khái niệm nghề được định nghĩa “là một hoạt động đòi hỏi có đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sống”. Ở Pháp, khái niệm nghề được định nghĩa “là một loại lao động có thói quen và kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống”. Ở Đức, nghề được định nghĩa “là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định, đòi hỏi phải được đào tạo ở một trình độ nào đó”. Nghề bao gồm nhiều chuyên môn.
Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội. (Nguyễn Hùng, 2008) Chúng ta có thể hiểu nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. Thuật ngữ giáo dục nghề nghiệp chính thức được sử dụng khi Luật Giáo dục nghề nghiệp được Quốc hội khóa XIII thông qua tại Kỳ họp thứ 8 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2015. Luật mới ra đời thay thế cho Luật Dạy nghề trước đây đã hình thành được hệ thống giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc dân theo 3 cấp trình độ: sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp 5 Luan van khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập.
Đào tạo nghề là một hình thức giáo dục chú trọng vào đào tạo thực hành và trực tiếp một nghề nhất định. Theo Cac-Mac “công tác đào tạo nghề phải bao gồm các thành phần sau: - Một là: Giáo dục trí tuệ. - Hai là: Giáo dục thể lực như trong các trường Thể dục Thể thao hoặc bằng cách huấn luyện quân sự. - Ba là: Dạy kỹ thuật nhằm giúp học sinh nắm được vững những nguyên lý cơ bản của tất cả các quá trình sản xuất, đồng thời biết sử dụng các công cụ sản xuất đơn giản nhất”.
Tại khoản 2 điều 3 của Luật GDNN số 7/2014/QH13 được Quốc hội ban hành ngày 27/11/2014 ghi rõ: - Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp. - Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên. Hay nói cách khác đào tạo nghề là hoạt động có mục đích, có tổ chức đến người học để hình thành và phát triển một cách có hệ thống những kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội, trong đó có nhu cầu quốc gia, nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu bản thân người học nghề. Khái niệm đào tạo nghề kế toán: Luật kế toán số 88/2015/QH13 quy định “ Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”.
Theo từ điển trực tuyến wikipedia tiếng Việt : Kế toán là quá trình xác định, ghi chép, tổng hợp và báo cáo các thông tin kinh tế cho những người ra quyết định. Quá trình kế toán được mô tả như sau: Các sự kiện hay giao dịch -> Phân tích và ghi chép -> Các báo cáo tài chính -> Những người sử dụng. Những phương pháp mà một doanh nghiệp sử dụng để ghi chép và tổng hợp thành các báo cáo kế toán định kỳ tạo thành hệ thống kế toán. Kế toán gồm hai bộ phận chính: Kế toán quản trị và kế toán tài chính.
Kế toán tài chính tập trung vào các nhu cầu cụ thể của những người bên ngoài doanh nghiệp, chẳng hạn như các cổ đông, nhà cung cấp hàng hóa, ngân hàng cho vay và các cơ quan quản lý nhà nước. Kế toán quản trị chỉ nhằm để phục vụ cho những người ra quyết định bên trong công ty, như các nhà quản trị cấp cao, các phòng ban, hiệu trưởng hay trưởng khoa các trường đại học, ban giám đốc bệnh viện và các cấp quản lý trong nội bộ tổ chức. Võ Văn Nhị và cộng sự, 2015) Vậy, đào tạo nghề kế toán là hoạt động dạy và học từ tuyển sinh, tổ chức chương trình đào tạo, đánh giá kết quả học tập của người học về kiến thức, kỹ năng, thái độ để vận dụng thành công vào thực tế sau khi hoàn thành khóa học. Việc đào tạo nghề theo định hướng xã hội hiện nay còn đòi hỏi các trường phải có chuẩn đầu ra phù hợp với nhu cầu thực tế.
Trước đây, việc đánh giá theo lối truyền thống chủ yếu dựa vào các bài kiểm tra hay bài thi chỉ đánh giá được mức độ lĩnh hội kiến thức của người học. Xu thế phát triển mới của giáo dục hiện đại là người học không chỉ lĩnh hội kiến thức mà còn phải biết vận dụng kiến thức đã học một cách hữu hiệu và sáng tạo vào công việc trong tương lai. 7 Luan van Vì vậy, đối với công tác đào tạo nghề kế toán nói riêng và các ngành nghề nói chung các chuẩn năng lực và chiến lược đánh giá cần được thiết kế trên một hệ thống thang bậc khoa học được công nhận và ứng dụng sao cho người học có thể đạt được các mục tiêu của chương trình dạy học. Hệ thống thang năng lực của Bloom đã và đang được nhiều quốc gia sử dụng bởi tính khoa học cũng như độ tin cậy của nó.
Từ các tiêu chí về nhận thức của hệ thống này, các nhà sư phạm có thể xây dựng các chuẩn năng lực đầu ra và tiêu chí đánh giá năng lực của người học qua môn học mà mình phụ trách. Bảng phân loại Bloom bao gồm 3 miền học tập: nhận thức, cảm xúc và vận động và mỗi miền được gán cho một hệ thống phân cấp tương ứng với các cấp độ học tập khác nhau. Miền nhận thức tập trung vào các kỹ năng trí tuệ như tư duy phản biện, giải quyết vấn đề và tạo ra kiến thức nền. Hệ thống phân cấp của miền nhận thức mở rộng từ việc ghi nhớ đơn giản, trải qua sự trau dồi kiến thức của người học tạo ra cái mới dựa trên các thông tin đã được học.
Miền cảm xúc tập trung vào thái độ, giá trị sự hứng thú và đánh giá cao của người học. Hệ thống phân cấp của miền này bắt đầu bằng việc tiếp nhận, lắng nghe thông tin, mở rộng đến đặc tính hóa hoặc nội tâm hóa các giá trị và nhất quán hành động theo chúng. Miền vận động bao gồm khả năng của người học để hoàn thành các nhiệm vụ về thể chất và thực hiện các động tác, kỹ năng. Hệ thống phân cấp của miền này bao gồm từ phản xạ và chuyển động cơ bản đến giao tiếp không phân tán và hoạt động biểu cảm có ý nghĩa Dựa theo cách tiếp cận trên chúng ta có thể xây dựng những tiêu chí chuẩn đầu ra cho ngành kế toán cơ bản như sau: Về kiến thức: 8 Luan van - Vận dụng được các kiến thức toán, khoa học tự nhiên và kinh tế cơ bản của nhóm ngành kinh tế và quản trị kinh doanh vào giải quyết những vấn đề lý luận thực tiễn liên quan đến ngành đào tạo.
- Áp dụng được các kiến thức cơ bản về kế toán để lập và mô tả được các báo cáo tài chính trong doanh nghiệp. - Sử dụng được kiến thức thực tiễn về kế toán, hoàn thành tốt các nhiệm vụ theo từng vị trí công việc được phân công. Về kỹ năng: Kỹ năng nghề nghiệp - Tổ chức công tác kế toán bao gồm tổ chức bộ máy kế toán, tổ chức hệ thống chứng từ, hệ thống tài khoản, hệ thống sổ kế toán, hệ thống báo cáo kế toán tài chính và kế toán quản trị tại các loại hình doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và tổ chức kinh tế xã hội khác. - Lập các báo cáo thuế hàng tháng và quyết toán thuế năm.
- Có năng lực vận dụng kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn bước đầu hình thành năng lực sáng tạo, phát triển trong nghề nghiệp. Kỹ năng mềm - Có kỹ năng tin học và ngoại ngữ theo yêu cầu. - Có khả năng làm việc độc lập; tự học hỏi tìm tòi; làm việc có kế hoạch và khoa học; có kỹ năng quản lý thời gian, phân bổ công việc cá nhân, có khả năng làm việc nhóm. Về phẩm chất đạo đức: -Có phẩm chất cá nhân như tự tin, can đảm, trung thành, công nhận thành quả của người khác.
- Có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp: Trung thực, trách nhiệm, đáng tin cậy, tỉ mỉ, nguyên tắc và hành vi chuyên nghiệp. 9 Luan van - Có phẩm chất đạo đức xã hội: Có lòng nhân ái, bao dung, độ lượng; xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân; tư cách, tác phong đúng đắn của người công dân; có chuẩn mực đạo đức trong các mối quan hệ xã hội. Việc xây dựng các chuẩn đánh giá là một công việc khoa học phức tạp cần phải được các nhà sư phạm và các chuyên gia nghiêm túc nghiên cứu và thực hiện thì mới thật sự có chiều sâu và phát huy hiệu quả.