phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về dịch vụ công tác xã hội trong hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho ngƣời nghèo. Thực trạng dịch vụ công tác xã hội trong hỗ trợ ngƣời nghèo tìm kiếm việc làm tại xã Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, TP. Giải pháp nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công tác xã hội trong hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho ngƣời nghèo tại xã Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, TP.
Hà Nội 13 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ TÌM KIẾM VIỆC LÀM CHO NGƢỜI NGHÈO 1. Các khái niệm công cụ chính của đề tài 1. Khái niệm nghèo Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới thì “ Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tƣơng ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thƣớc đo các tiêu chuẩn này và nguyên nhân dẫn đến nghèo đói thay đổi theo địa phƣơng và theo thời gian”.
Theo đó một ngƣời là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu ngƣời hàng năm (PCI) của quốc gia. Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), năm 1999: “Nghèo là tình trạng thiếu những tài sản cơ bản và cơ hội mà mỗi con ngƣời có quyền đƣợc hƣởng”[33]. Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo của Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9 năm 1993:“ Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con ngƣời mà những nhu cầu này đã đƣợc xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phƣơng”. Để có cách nhìn khái quát về vấn đề nghèo, Robert McNamara- giám đốc của Ngân hàng Thế giới đã đƣa ra khái niệm nghèo tuyệt đối và nghèo trƣơng đối: - Nghèo tuyệt đối: Là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại.
Những ngƣời nghèo tuyệt đối là những ngƣời phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu 14 thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vƣợt qua sức tƣởng tƣợng mang dấu ấn của cảnh ngộ may m n. - Nghèo tƣơng đối có thể xem nhƣ là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những ngƣời thuộc về một số tầng lớp nhất định so với sự sung túc của xã hội đó. - Với cách định nghĩa nhƣ trên có thể nhận thấy khái niệm nghèo đói tƣơng đối phát triển theo thời gian và không gian tuỳ theo sự phát triển của xã hội. - Nghèo đói thƣờng xuất hiện do tình trạng kém phát triển hoặc phát triển không đồng đều giữa các thành phần kinh tế, các vùng miền, đồng thời do chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc không chú ý đến nguyên nhân gây ra nghèo đói.
Do đó nghèo đói thƣờng liên quan mật thiết với quá trình tăng trƣởng kinh tế và công bằng xã hội. Nhƣ vậy trong luận văn này tác giả sử dụng quan niệm nghèo của Việt Nam vào trong nghiên cứu của mình. Tóm lại, nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phƣơng diện nhƣ: thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng những lúc khó khăn và dễ bị tổn thƣơng trƣớc những đột biến, ít đƣợc tham gia vào quá trình ra quyết định. Khái niệm việc làm, tìm kiếm việc làm 1.
Việc làm Việc làm là một trong những vấn đề cơ bản nhất của mọi quốc gia nhằm góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội. Hội nghị thƣợng đỉnh Copenhagen tháng 3 năm 1995 tại Đan Mạch coi việc mở rộng việc làm là một trong những nội dung cơ bản nhất trong chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội của các nƣớc trên thế giới. Theo Luật của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1994 ghi: “Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật nghiêm cấm đƣợc coi là việc làm”. 15 Với khái niệm trên, các hoạt động đƣợc xác định là việc làm bao gồm: - Làm những công việc đƣợc trả công dƣới dạng tiền hoặc hiện vật.
- Những công việc tự làm để mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo ra thu nhập cho gia đình mình nhƣng không đƣợc trả công cho công việc đó. Quan niệm này sẽ làm cho nội dung của việc làm đƣợc mở rộng và tạo khả năng to lớn để giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho ngƣời lao động. Ngƣời có việc làm: - Nguời có việc làm bao gồm những ngƣời đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế mà trong một tuần lễ trƣớc điều tra. - Đang làm việc để nhận tiền lƣơng, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền hay hiện vật.
- Đang làm những công việc sản xuất kinh doanh của gia đình mình để thu lợi nhuận nhƣng không đƣợc trả công cho công việc đó. - Đã có việc làm trƣớc đó nhƣng đang trong thời gian nghỉ đã đƣợc sự cho phép của nhà quản lí và sẽ trở lại làm việc sau thời gian nghỉ phép. Căn cứ vào thời gian làm việc của ngƣời đƣợc coi là có việc làm thì có thể phân loại nhƣ sau: - Ngƣời đủ việc làm: là những ngƣời có điều kiện sử dụng hết thời gian lao động theo quy định. Trong thống kê lao động-việc làm ở Việt Nam thì những ngƣời có đủ việc làm bao gồm những ngƣời có số giờ làm việc trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra lớn hơn hoặc bằng 40 h hoặc những ngƣời có số giờ làm việc nhỏ hơn 40 h nhƣng lớn hơn hoặc bằng giờ quy định đối với những ngƣời làm công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành.
Số giờ quy định trên có thể thay đổi theo từng năm học hoặc từng thời kỳ. 16 - Ngƣời thiếu việc làm: Bao gồm những ngƣời mà tại thời điểm điều tra không sử dụng hết thời gian lao động quy định và nhận đƣợc thu nhập từ công việc khiến họ có nhu cầu làm thêm. - Ngƣời bán thất nghiệp: Đây là hiện tƣợng thƣờng thấy ở lao động nông thôn làm việc mùa vụ, lao động ở khu vực thành thị không chính thức, lao động ở các cơ sở sản xuất kinh doanh đang gặp khó khăn, lao động nhà nƣớc dôi dƣ. - Ngƣời thất nghiệp: Là những ngƣời trong độ tuổi lao động, có sức lao động nhƣng chƣa có việc làm, đang có nhu cầu làm việc nhƣng chƣa có việc làm.
Đối lập với việc làm, thất nghiệp là tình trạng có tính quy luật của nền kinh tế thị trƣờng. Có nhiều quan niệm khác nhau về thất nghiệp. Theo tổ chức lao động quốc tế ILO, thất nghiệp là tình trạng tồn tại của những ngƣời lao động muốn có việc làm nhƣng không tìm đƣợc việc làm vì những lý do ngoài ý muốn của họ, do đó không có thu nhập. Nhƣ vậy, thất nghiệp là những ngƣời có khả năng lao động, có nhu cầu lao động nhƣng hiện tại không có việc làm, đang tích cực tìm việc hoặc đang chờ đợi trở lại làm việc.
Thực tế ở nƣớc ta trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trƣờng, giải quyết tình trạng thất nghiệp luôn là vấn đề bức thiết. Dƣới giác độ chính sách việc làm, để hạn chế thất nghiệp, chúng ta vừa phải tạo ra nhiều việc làm mới vừa phải tránh tình trạng ngƣời lao động đứng trƣớc nguy cơ mất việc làm. Tìm kiếm việc làm Theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO), tìm kiếm việc làm là hoạt động tìm kiếm công việc mang lại thu nhập cho ngƣời lao động và không bị pháp luật nghiêm cấm. Hoạt động tìm kiếm việc làm đƣợc tự do liên 17 doanh, liên kết, tự do tìm nguồn công việc, tuân thủ theo pháp luật để tạo việc làm cho ngƣời lao động.
Khái niệm công tác xã hội Theo Từ điển Bách khoa Xã hội: “Công tác xã hội là một khoa học ứng dụng nhằm tăng cƣờng hiệu quả hoạt động của con ngƣời, tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho mọi ngƣời trong xã hội”. Tại Đại hội Montreal (tháng 7/2000) IFSW định nghĩa về công tác xã hội nhƣ sau: “Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội,việc giải quyết các vấn đề trong các mỗi quan hệ con ngƣời và sự tăng quyền lực và giải phóng ngƣời dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con ngƣời và hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp ở các điểm tƣơng tác giữa con ngƣời và môi trƣờng của họ. Nhân quyền và công bằng xã hội là nguyên t c cơ bản của nghề”.
Theo đề án 32 của Thủ tƣớng Chính phủ: công tác xã hội góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con ngƣời và con ngƣời, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của thân chủ xã hội, hƣớng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho ngƣời dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến. (Theo quyết định 32/2010/QĐ-TTg) Công tác xã hội còn đƣợc hiểu là một dịch vụ đã chuyên môn hóa, góp phần giải quyết những vấn đề xã hội, về con ngƣời mang tính bức xúc nhằm thỏa mãn các lợi ích căn bản của những cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội, mặt khác góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vai trò xã hội của chính mình. Công tác xã hội là một hoạt động thực nên mang tính tổng hợp cao, đƣợc thực hiện theo những nguyên t c và phƣơng pháp nhất định nhằm hỗ trợ 18 cá nhân và các nhóm ngƣời trong việc giải quyết các vấn đề đời sống của họ, vì phúc lợi và hạnh phúc con ngƣời và tiến bộ xã hội. Định nghĩa trên có 6 yếu tố đáng lƣu ý: Thứ nhất, công tác xã hội là một dạng hoạt động thực tiễn.
Điều này đối với các bạn làm công tác xã hội trực tiếp, là hiển nhiên. Tuy nhiên, với các nhà quản lý, cần phải đƣợc nhấn mạnh, vì nhiều khi ngƣời ta quên rằng để giải quyết các vấn đề xã hội cần thực hiện công tác xã hội cụ thể, chứ không chỉ dừng lại ở một số khâu quản lý ban đầu (nghiên cứu, ra chính sách, lập kế hoạch…). Thứ hai, đó là một dạng hoạt động thực tiễn mang tính tổng hợp cao, hay phức tạp. Điều này cần đặc biệt nhấn mạnh ở các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam.