CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. DA CÁ Theo năm 2010, xuất khẩu cá tra ở nước ta đạt 1,4 tỷ USD với khối lượng các mặt hàng xuất khẩu đạt trên 600. Lượng phụ phẩm trong quá trình chế biến cá rất lớn với định mức 2,6 kg nguyên liệu cho ra 1 kg thành phẩm. Tính ra lượng phụ phẩm (như: đầu, xương, da…) trong năm 2010 là 960.000 tấn cá tra phi lê thì sẽ có khoảng 85.000 tấn da cá được thải ra [72].
Theo các tác giả trước, hàm lượng collagen trong da cá tra là 73% chất khô [1]. Vậy, da cá tra là một nguồn nguyên liệu tốt để thu nhận collagen. Tính chất hóa lý [22, 43] Collagen là một loại protein cấu trúc chính vì vậy chúng cũng có đầy đủ các tính chất lý hóa của một protein như sự biến tính, tính kỵ nước, khả năng kết tủa thuận nghịch, không thuận nghịch, tính hydrat hóa, tính chất của dung dịch keo. Ngoài ra, nó còn có một số tính chất khác đặc trưng cho collagen như: Khả năng trương nở: Collagen không hòa tan trong nước mà nó hút nước để nở ra, cứ 100g collagen khô có thể hút được khoảng 200g nước, trong đó khoảng 70g là nước liên kết và 20g là liên kết vững chắc.
Collagen kết hợp với nước nở ra, độ dày tăng lên chừng 25% nhưng độ dài tăng lên không đáng kể, tổng thể tích của phân tử collagen tăng lên 2 ÷ 3 lần. Do nước phân cực nên sẽ tác dụng lên liên kết hydro trong collagen, làm giảm tính vững chắc của sợi collagen từ 3 ÷ 4 lần. Khi nhiệt độ tăng cao, mạch polypeptide sẽ bị yếu đi và bắt đầu đứt thành những mạch nhỏ hơn. Nếu nhiệt độ HVTH: LÊ THỊ THANH VÂN CBHD: PGS.
PHAN ĐÌNH TUẤN MSHV: 10110207 TS. PHAN NGỌC HOÀ 4 tăng đến 60 ÷ 650C, collagen sẽ bị phân giải. Đây là những đặc điểm cần lưu ý trong quá trình xử lý thu nhận collagen. Sự gia tăng độ trương nở dưới tác động của acid là kết quả của sự giảm nồng độ ion H+ tác động đến các anion acid, và tác động của bazơ gây ra bởi nồng độ nhóm OH- giảm ảnh hưởng đến các cation bazơ.
Khả năng tạo nhũ tương: Là một protein không tan, collagen có thể có ít dấu hiệu cho thấy là một chất nhũ hóa. Tuy nhiên, collagen có nguồn gốc từ da sống được xử lý và biến tính ở mức độ khác nhau nên có thể là một chất nhũ hóa tốt hơn sữa gầy. Khả năng hòa tan: Collagen tan trong glycerin, acid acetic, ure nhưng không tan trong nước lạnh. Collagen được phân chia thành bốn lớp trên cơ sở tính hòa tan trong các dung dịch đệm khác nhau: tan trong muối trung tính, tan trong acid, tan trong kiềm, và không tan trong kiềm.
Phân tử collagen chứa cả nhóm amin và carboxyl nên collagen có tính chất lưỡng tính, có thể tác dụng với acid lẫn kiềm. Trong môi trường acid và kiềm, collagen có khả năng hút nước cao hơn trong nước nguyên chất do tác dụng của nước với các nhóm mang điện. Dưới tác dụng của các acid và kiềm đủ mạnh collagen sẽ bị biến đổi, đây là một biến đổi quan trọng trong quá trình thu nhận sản phẩm collagen. Acid và kiềm sẽ cắt đứt các liên kết –NH3+.COO- làm đứt mạch peptide, phá vỡ các liên kết hydro, phân hủy acid amin, giải phóng amoniac.
Tác dụng thủy phân của acid và kiềm tăng khi nhiệt độ môi trường tăng. Do đó, trong quá trình thu nhận collagen cần phải khống chế nhiệt độ và thời gian thích hợp để đảm bảo chất lượng của thành phẩm. HVTH: LÊ THỊ THANH VÂN CBHD: PGS. PHAN ĐÌNH TUẤN MSHV: 10110207 TS.
PHAN NGỌC HOÀ 5 Các thành phần tan trong acid thường bao gồm hai nhóm: một là nhóm β2 hoặc β11 gồm hai chuỗi α1, và hai là nhóm β1 hoặc β12 gồm một chuỗi α1 và một chuỗi α2 liên kết bởi liên kết cộng hóa trị kiểu este. Collgagen hòa tan trong muối bao gồm 90% các chuỗi α và 10% các chuỗi dạng β, trong khi collagen hòa tan trong acid là khoảng 10% chuỗi α và 90% ở dạng β. Chỉ có 50% nhóm ion của collagen hoà tan trong acid có trong collagen hòa tan trong muối. Các nhóm còn lại có thể tham gia vào mối liên kết chéo.
Các yếu tố ảnh hưởng đến collagen [32, 43, 48, 66] Ảnh hưởng của không khí Ở các độ tuổi khác nhau, trong cơ thể sống hay trong ống nghiệm, không khí có một vai trò quan trọng trong sự thay đổi cấu trúc hóa học của collagen (Sobel và Hansen, 1989). Sự oxy hóa sẽ làm thay đổi cấu trúc phân tử của các protein. Ảnh hưởng của acid và kiềm Ảnh hưởng của acid: Acid acetic có thể làm collagen trương nở 50% và tăng khả năng peptid hóa collagen hơn HCl ở pH 2,0. Điều đó chứng tỏ rằng acid yếu (ví dụ như acid acetic) cho phép phóng thích các proton từ nhóm cacboxyl của collagen.
Sự ảnh hưởng của HCl tới collagen: một số cation H+ kết hợp với anion – COO-. Quá trình này tiếp tục cho đến khi tất cả nhóm –COO- đã được phóng điện và tất cả nhóm cation đều ở dạng tự do. Vì vậy, pha nước bên trong cấu trúc collagen sẽ chứa nhiều Cl- hơn H+. Sự phân phối ion khác nhau giữa hai pha tạo ra sự khác nhau về áp suất thẩm thấu và khả năng tích điện.
Để tạo trạng thái cân bằng nồng độ ion giữa hai pha, nước đi vào các phân tử collagen và gây ra sự trương nở. Ảnh hưởng của kiềm: Trong môi trường bazơ mạnh (như NaOH) khả năng trương nở của collagen gia tăng, đặc biệt là các hydroxyde của ion kim loại hóa trị hai ở pH > 10, ở pH này HVTH: LÊ THỊ THANH VÂN CBHD: PGS. PHAN ĐÌNH TUẤN MSHV: 10110207 TS. PHAN NGỌC HOÀ 6 có sự chuyển hóa không thuận nghịch thành các ion.
Sự phân hủy nhóm hydroxy của các acid amin (serin và threonine) và sự thủy phân của liên kết keto - imide giữa proline và hydroxyproline xảy ra trong suốt quá trình xử lý collagen bằng kiềm ở pH 12 ÷ 14. Acid và kiềm đều có thể phân hủy collagen. Collagen phân giải biến thành gelatine, căn cứ vào giả thuyết của Hofmeister phản ứng sẽ tiến hành như sau: Nếu xử lý ở nhiệt độ cao trong nước, gelatine sẽ dễ dàng thủy phân tiếp thành: Từ đó thấy rằng trong quá trình trích ly collagen cần thiết phải khống chế nhiệt độ và thời gian thích hợp để đảm bảo chất lượng của collagen. Ảnh hưởng của nhiệt độ: • Ở nhiệt độ thấp: Ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đối với collagen tương tự như khả năng trương nở của collagen trong nước.
• Ở nhiệt độ cao: Nhiệt độ là nguyên nhân làm cho một số protein trong collagen bị biến tính. Khi nhiệt độ tăng lên cao, tính hoạt động của mạch polypeptide tăng mạnh, làm cho mạch bị yếu và bắt đầu đứt thành những mạch polypeptide tương đối nhỏ. Trong khoảng nhiệt độ 60 ÷ 65oC, collagen hút nước bị phân giải và nếu tiếp tục đun collagen sẽ bị thủy phân thành gelatin. Độ bền nhiệt được xem là tỷ lệ thuận với HVTH: LÊ THỊ THANH VÂN CBHD: PGS.
PHAN ĐÌNH TUẤN MSHV: 10110207 TS. PHAN NGỌC HOÀ 7 tổng lượng proline và hydroxyproline, collagen càng bền nhiệt khi lượng proline và hydroxyproline càng nhiều. Các chất khác: Collagen trong dung dịch muối trung tính cùng với gốc –COOH và –NH2 tạo thành các hợp chất muối. Tác dụng phân giải collagen của NaCl so với Na2SO4 mạnh hơn (độ điện ly của NaCl lớn hơn).
Muối trung tính ở nồng độ vừa phải (1M) ngăn cản sự trương nở, ở nồng độ cao sẽ hiệu quả hơn. Các anion nhìn chung làm gia tăng độ trương nở hiệu quả hơn các cation. Dịch collagen khi thêm cồn, aceton hoặc heparin thì sợi collagen dày lên và kết tủa lại. Collagen bị thuỷ phân chậm bởi trypsin và pepsin, trong khi đó gelatin dễ bị phân huỷ hơn.
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng tác dụng của trypsin đối với collagen đã xử lý (như đun nóng, ngâm acid, kiềm, muối, tác dụng của pepsin, tác dụng cơ học…) thì nó có tác dụng phân giải, với điều kiện thích hợp nhất là nhiệt độ 37oC, pH = 8,1 ÷ 8,2. Tính chất chức năng [21, 71] Ngoài tính chất hydrat hóa cơ bản, như khả năng trương nở và khả năng hòa tan, tính chất quan trọng nhất của collagen/gelatin có thể được chia thành 2 nhóm: tính chất gel (sự tạo gel, tạo kết cấu, làm dầy và khả năng liên kết với nước) và tính chất bề mặt (tính nhũ hóa, tính tạo bọt và bền bọt, tính kết dính, tính keo và khả năng tạo màng). Tính chất tạo gel và liên kết với nước Sự tạo gel, độ nhớt và kết cấu là các tính chất được xác định chủ yếu dựa vào cấu trúc, phân tử lượng và nhiệt độ của hệ. Trong quá trình tạo gel hóa collagen, quá trình tập hợp phân tử collagen và tạo sợi diễn ra do sự thay đổi lực ion, pH và nhiệt độ, chủ yếu là phân tử collagen có HVTH: LÊ THỊ THANH VÂN CBHD: PGS.
PHAN ĐÌNH TUẤN MSHV: 10110207 TS. PHAN NGỌC HOÀ 8 cấu trúc bậc 2 và bậc 3. Sau đó, sự tập hợp bắt đầu với các tiểu đơn vị cho đến khi đạt cân bằng. Quá trình tự sắp xếp collagen loại I của động vật có xương sống xảy ra khi nhiệt độ gel hóa tăng từ 20 đến 280C.
Cơ chế tạo gel liên quan đến sự thay đổi cấu trúc xoắn ốc khi dung dịch collagen bị làm lạnh dưới 300C. Quá trình gel hóa của collagen là quá trình thuận nghịch nhiệt. Tính chất bề mặt Tính chất bề mặt của collagen/gelatin dựa vào sự có mặt của các nhóm tích điện trong chuỗi protein và trong collagen vừa có acid amin ưa nước và kỵ nước. Cả phần ưa nước và kỵ nước có xu hướng di chuyển về phía bề mặt, do đó làm giảm sức căng bề mặt dung dịch, tạo thành màng tích điện bao xung quanh pha phân tán và được tăng cường bổ sung bởi sự tạo gel.
Gelatin và collagen hòa tan có tính chất tạo bọt, thậm chí không tạo gel, bởi vì chúng làm giảm sức căng bề mặt ở bề mặt lỏng/khí bằng cách tăng độ nhớt của pha nhiều nước. Tính chất tạo bọt phụ thuộc đáng kể vào đặc tính của nguyên liệu. Khi phân tử protein chứa vùng kỵ nước bị lộ ra ngoài, sẽ xảy ra sự hấp phụ ở bề mặt không khí-nước và thuận lợi cho quá trình tạo bọt, bền bọt. Tính chất tạo màng Gelatin được nghiên cứu rộng rãi về khả năng tạo màng và được sử dụng như một màng bao bên ngoài để bảo vệ thực phẩm không bị khô khi tiếp xúc với ánh sáng và oxy.