Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG KINH DOANH NHÀ Ở 1. Những vấn đề chung về dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở 1. Khái niệm, đặc điểm dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở 1.1 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở Để tìm hiểu dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở là gì, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm đầu tư. Theo quan điểm của các nhà kinh tế, thì đầu tư là đem một khoản tiền đã tích lũy được của cá nhân, của tập thể, của nhà nước, sử dụng vào một việc nhất định để sau đó thu về một khoản tiền lớn hơn.
Mục đích chính của hoạt động đầu tư là lợi nhuận thu được sau một thời gian đầu tư. Đầu tư cũng được hiểu là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư phù hợp với quy định của pháp luật. Ở khía cạnh pháp lý thì tại khoản 5 điều 3 Luật đầu tư năm 2014 định nghĩa: “Đầu tư kinh doanh” là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. Dự án nhà ở cũng là một dự án đầu tư kinh doanh.
Nhiều tác giả trong các giáo trình về dự án đầu tư có những cách định nghĩa khác nhau về dự án đầu tư. “Dự án đầu tư kinh doanh là một tập hồ sơ tài liệu mà nội dung của nó được trình bày một cách chi tiết việc sử dụng tài nguyên lâu dài để mang lại lợi ích kinh tế xã hội. Dự án đầu tư phải được các cấp có thẩm quyền phê duyệt; phải phù hợp với quy hoạch phát triển của vùng, địa phương, nội dung của dự án đầu tư phải được phân tích thuyết minh luận chứng kỷ thuật một cách khả thi chi tiết số liệu về các phương diện pháp lý, thị trường, môi trường, quản trị, tài chính và lợi ích kinh tế xã hội mà dự án đem lại cho xã hội và nó dựa trên cơ sở những số liệu điều tra cơ 7 bản, các bản đồ và các bản vẽ thiết kế, kỹ thuật có liên quan trực tiếp đến việc đầu tư”[19, tr. “ Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động liên quan với nhau chặt chẽ, được kế hoạch hóa nhằm đạt được mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định qua việc sử dụng các nguồn lực đã xác định”.
Theo khoản 2, điều 3 của Luật đầu tư năm 2014 thì “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”. Luật đất đai năm 1987 đã có thuật ngữ “luận chứng kinh tế - kỹ thuật” được quy định tại Điều 12. Khi Luật đất đai năm 1993 ra đời thì thuật ngữ này vẫn giữ nguyên. Cho đến khi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm 1996 thay thế Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 thì thuật ngữ “dự án đầu tư” ra đời.
Ở luật này không có định nghĩa dự án đầu tư, nhưng nhà nước căn cứ vào dự án để quyết định thời hạn đầu tư, vốn đầu tư, việc tái đầu tư, khuyến khích đầu tư, thời gian hoạt động của doanh nghiệp, việc chuyển giao công nghệ, quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào dự án đầu tư. Đến khi luật đất đai năm 1993 được sửa đổi bổ sung năm 2001 thì thuật ngữ “luận chứng kinh tế - kỹ thuật” chính thức được thay thế bằng cụm từ “dự án đầu tư” cho đến nay. Hiện nay pháp luật quy định những trường hợp phải đầu tư phát triển nhà ở theo dự án đó là phát triển nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua của tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, cải tạo làm tăng diện tích, xây dựng lại nhà chung cư cũ hoặc đầu tư xây dựng lại các khu nhà ở cũ. Nội dung của một dự án đầu tư thể hiện: mục tiêu của dự án, xác định kết quả cần đạt được của dự án, các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên và tài chính để thực hiện dự án.
Dự án đầu tư là bản luận chứng kỷ thuật tổng hợp phản ánh toàn bộ các vấn đề: thị trường, kinh tế kỹ thuật, công nghệ, xây dựng, tổ chức triển khai dự án và khả năng thu hồi vốn trên cơ sở tập hợp các luận chứng kỷ thuật riêng biệt, cụ thể những hoạt động có hệ thống về mặt kinh tế, kỹ thuật sẽ thực hiện trong một thời gian nhất định, nhằm đạt được mục tiêu nhất định một cách khả thi nhất. 8 Theo Luật nhà ở quy định: “Dự án đầu tư xây dựng nhà ở” là tổng hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để xây dựng mới nhà ở, các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phục vụ nhu cầu ở hoặc để cải tạo, sửa chữa nhà ở trên một địa điểm nhất định”. Dự án nhà ở phải đạt những yêu cầu cơ bản, gồm: tên dự án, luận chứng kỷ thuật và cơ sở pháp lý của dự án, mục tiêu, hình thức đầu tư, địa điểm xây dụng, quy mô dự án, nhu cầu sử dụng đất, điều kiện tự nhiên của khu vực có dự án, phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư (nếu có), phương án sử dụng công nghệ xây dựng, quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng, mật độ xây dựng áp dụng đối với dự án, đánh giá tác động môi trường, phương án phòng cháy, chữa cháy, các giải pháp về hạ tầng kỹ thuật và đấu nối với hạ tầng kỹ thuật hiện có của khu vực, khả năng sử dụng hạ tầng xã hội của khu vực, số lượng và tỷ lệ các loại nhà ở, đất ở (bao gồm nhà biệt thự, nhà ở riêng lẻ, căn hộ chung cư, nền đất), tổng diện tích sàn xây dựng nhà ở, phương án đưa sản phẩm tiêu thụ ra thị trường (số lượng nhà, đất chuyển nhượng, bán, cho thuê hoặc cho thuê.), các đề xuất về cơ chế ưu đãi (nếu có) áp dụng cho dự án (về sử dụng đất, tài chính ,và các cơ chế khác theo quy định), thời gian, tiến độ thực hiện dự án (tiến độ theo từng giai đoạn) và hình thức quản lý dự án, tổng mức đầu tư, nguồn vốn, hình thức huy động vốn, khả năng hoàn trả vốn, khả năng thu hồi vốn. Dự án đầu tư xây dựng nhà ở, theo điều 14 Luật nhà ở 2014, bao gồm: Dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo một công trình nhà ở độc lập hoặc một cụm công trình nhà ở; Dự án đầu tư xây dựng khu nhà ở có hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ tại khu vực nông thôn; Dự án đầu tư xây dựng khu đô thị hoặc dự án sử dụng đất hỗn hợp mà có dành diện tích đất trong dự án để xây dựng nhà ở; Dự án đầu tư xây dựng công trình có mục đích sử dụng hỗn hợp để ở và kinh doanh.
Yêu cầu đối với dự án đầu tư xây dựng nhà ở theo điều 19 Luật nhà ở 2014: Dự án đầu tư xây dựng nhà ở chỉ được lập, phê duyệt và triển khai thực hiện tại khu vực đã có quy hoạch chi tiết được phê duyệt, tuân thủ các nội dung quyết định chủ trương đầu tư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đáp ứng các yêu cầu quy 9 định tại Điều 14 của Luật nhà ở năm 2014; dự án đầu tư xây dựng nhà ở, các khu vực trong dự án phải được đặt tên bằng tiếng Việt; trường hợp chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở thương mại có nhu cầu đặt tên dự án bằng tiếng nước ngoài thì phải viết tên đầy đủ bằng tiếng Việt trước, viết tiếng nước ngoài sau. Tên dự án, tên các khu vực trong dự án phải được cơ quan có thẩm quyền quyết định, được sử dụng trong cả quá trình đầu tư xây dựng và quản lý, sử dụng sau khi hoàn thành đầu tư xây dựng; chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở phải thực hiện đầy đủ các nội dung của dự án đã được phê duyệt; trường hợp chủ đầu tư có đề nghị điều chỉnh các nội dung bao gồm tên dự án, tiến độ thực hiện, loại nhà ở phải xây dựng, tổng diện tích sàn xây dựng, tổng số lượng nhà ở, tỷ lệ các loại nhà ở, tổng mức đầu tư nếu là dự án được đầu tư bằng vốn nhà nước thì phải được cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 170 của Luật nhà ở năm 2014 quyết định trước khi triển khai thực hiện xây dựng. Như vậy, dự án phát triển nhà ở quy định tại luật nhà ở là tổng hợp các đề xuất chứng minh hiệu quả đầu tư phát triển nhà ở trên một địa điểm hoặc một khu vực nhất định, và dự án nhằm mục đích để cho thuê, cho thuê mua, để bán của các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản; cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư, khu nhà ở cũ; phát triển nhà ở để phục vụ tái định cư; phát triển nhà ở thuộc sở hữu nhà nước của tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế. Mặc dù tên gọi các dự án có khác nhau về câu chữ, nhưng bản chất vẫn là dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở.
Vậy, dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở là các nhà đầu tư bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động xác lập quyền sử dụng đất để đầu tư xây dựng nhà ở, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cơ sở hạ tầng xã hội theo quy định của pháp luật, trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định nhằm mục đích kinh doanh. Dự án đầu tư phải được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phù hợp quy hoạch là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các biện pháp quản lý, cấp phép đầu tư. Nó là căn cứ để nhà đầu tư triển khai hoạt động đầu tư và đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư.