Tổng quan nghiên cứu

Dân số tỉnh An Giang theo kết quả tổng điều tra năm 2019 đạt trên 1,9 triệu người với 411.574 hộ gia đình có nhà ở, tuy nhiên diện tích sàn bình quân tại khu vực đô thị chỉ dừng ở mức 13,2 m2/người, thấp hơn đáng kể so với khu vực nông thôn là 22,1 m2/người. Trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, giá bất động sản tại Việt Nam ước tính cao gấp 25 lần thu nhập trung bình hàng năm của người dân, khiến mục tiêu sở hữu nơi ở an toàn của các nhóm yếu thế, cán bộ công chức và công nhân lao động ngày càng xa vời. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là sự bất cập giữa nhu cầu an cư bức thiết của người có thu nhập thấp và năng lực cung ứng hạn chế từ các chương trình phát triển nhà ở xã hội tại địa phương. Luận văn hướng đến mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận chính sách công, phân tích toàn diện thực trạng triển khai chính sách nhà ở xã hội giai đoạn 2015-2020 trên địa bàn tỉnh An Giang, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị và tổ chức thực thi. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 11 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh An Giang trong khung thời gian 5 năm, tập trung vào phân khúc nhà ở xã hội dạng chung cư cho người thu nhập thấp. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, công trình cung cấp luận cứ khoa học định lượng giúp các cơ quan quản lý thu hẹp khoảng cách chênh lệch diện tích nhà ở, phấn đấu nâng mức bình quân toàn tỉnh từ 18,1 m2/người lên trên 20 m2/người, góp phần bảo đảm an sinh xã hội bền vững cho hơn 70,2% dân số đang trong độ tuổi lao động vàng của địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết chu trình chính sách công của James Anderson làm nền tảng phân tích toàn diện các giai đoạn từ xác định vấn đề, thiết kế công cụ, tổ chức thực thi đến giám sát và đánh giá kết quả chính sách. Đồng thời, luận văn kết hợp lý thuyết phúc lợi công cộng và lý thuyết can thiệp thị trường của Nhà nước nhằm luận giải vai trò điều tiết của chính quyền trước các khiếm khuyết của thị trường bất động sản thương mại. Khung phân tích tập trung vào bốn khái niệm cốt lõi: Nhà ở xã hội theo định nghĩa tại khoản 3 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014 là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho đối tượng ưu tiên; Chính sách công với tính chất là chương trình hành động có mục đích giải quyết vấn đề an sinh; Công cụ chính sách bao gồm các đòn bẩy về quy hoạch quỹ đất, ưu đãi thuế giá trị gia tăng và hỗ trợ tín dụng ưu đãi; cùng Trách nhiệm giải trình nhằm bảo đảm tính minh bạch trong phân bổ quỹ nhà. Mô hình nghiên cứu thiết lập mối quan hệ tác động đa chiều giữa các nhân tố thể chế, năng lực quản trị công và sự tham gia của khối doanh nghiệp tư nhân vào kết quả phân phối nhà ở.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp định tính và định lượng trên nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp phong phú. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê tỉnh An Giang, báo cáo chuyên ngành của Sở Xây dựng và kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở với quy mô mẫu bao quát 411.574 hộ dân trên toàn tỉnh trong giai đoạn 2015-2020. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu chuyên gia có chủ đích với cỡ mẫu gồm 50 cán bộ quản lý nhà nước tại 11 phòng ban cấp huyện, các nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh và đại diện lãnh đạo các doanh nghiệp xây dựng bất động sản trên địa bàn. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian và so sánh tỷ lệ phần trăm được lựa chọn nhằm xác định chính xác mối tương quan giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế GRDP đạt 6,0%, mức thu nhập bình quân 31,24 triệu đồng/năm với tốc độ phát triển các dự án nhà ở. Phương pháp này bảo đảm tính khách quan, làm sáng tỏ các rào cản thực tế trong quá trình thể chế hóa các nghị định như Nghị định 100/2015/NĐ-CP vào môi trường địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu loại hình nhà ở tại tỉnh An Giang bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng khi tỷ lệ nhà ở riêng lẻ chiếm tới 99,90%, trong khi nhà ở chung cư tập thể chỉ chiếm vỏn vẹn 0,1%. Toàn tỉnh có 79% nhà kiên cố và 10,5% nhà bán kiên cố, tuy nhiên vẫn còn 6,3% nhà thiếu kiên cố và 4,2% nhà đơn sơ tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn và các huyện biên giới. Thứ hai, sự gia tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo là rào cản tài chính lớn: tỷ số chênh lệch thu nhập bình quân giữa nhóm 20% giàu nhất và nhóm 20% nghèo nhất đã tăng từ 5,62 lần năm 2016 lên 5,84 lần năm 2019. Với mức giá nhà bình quân cao gấp 25 lần thu nhập trung bình năm của người lao động, việc trả nợ gốc và lãi vay ngân hàng thương mại 12%/năm đòi hỏi chi phí hàng tháng vượt quá 6 lần mức thu nhập cơ bản của một hộ nghèo. Thứ ba, sự phát triển của các khu công nghiệp tạo sức ép lớn về chỗ ở nhưng nguồn cung nhà ở công nhân chưa tương xứng. Khu công nghiệp Bình Long đã lấp đầy 100% và Khu công nghiệp Bình Hòa lấp đầy 39,4%, cùng 8 cụm công nghiệp diện tích khoảng 200 ha thu hút hơn 40.000 lao động, song tỷ lệ công nhân tiếp cận được nhà ở xã hội chính thức chỉ đạt dưới 15% tổng nhu cầu thực tế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên bắt nguồn từ việc chính quyền địa phương chậm giải phóng mặt bằng và chưa chủ động bố trí quỹ đất sạch cho các dự án an sinh. Lợi nhuận định mức của doanh nghiệp khi đầu tư nhà ở xã hội bị giới hạn ở mức 10%, trong khi thủ tục pháp lý phê duyệt dự án kéo dài làm giảm sức hấp dẫn thương mại so với các phân khúc bất động sản thương mại cao cấp. Khi đối chiếu với các nghiên cứu của Huỳnh Thủy Tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hoàng Vũ Linh tại Hà Nội, rào cản về cơ chế tín dụng ưu đãi và việc thiếu vắng một cơ quan chuyên trách độc lập như mô hình HDB tại Singapore hay UCDO tại Thái Lan là điểm nghẽn mang tính phổ quát. Dữ liệu nghiên cứu phản ánh trực quan qua bảng tổng hợp phân loại nhà ở kiên cố chiếm 79% đối lập với 0,1% nhà chung cư, kết hợp biểu đồ cột biểu diễn xu hướng gia tăng hệ số chênh lệch giàu nghèo từ 5,62 lên 5,84 lần giai đoạn 2016-2019. Điều này nhấn mạnh ý nghĩa thực tiễn là nếu không có sự can thiệp mạnh mẽ từ công cụ tài chính công, người thu nhập thấp tại An Giang sẽ hoàn toàn bị loại khỏi thị trường nhà ở chính quy.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch và tạo lập quỹ đất sạch đồng bộ: Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang chỉ đạo Sở Xây dựng và Sở Tài nguyên và Môi trường đưa chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm; bắt buộc các dự án đô thị thương mại trên 10 ha phải dành tối thiểu 20% tổng diện tích đất ở đã đầu tư hạ tầng để xây dựng nhà ở xã hội, hoàn thành công tác rà soát trước quý IV năm 2022.

Thứ hai, đa dạng hóa các công cụ hỗ trợ tài chính và tín dụng ưu đãi: Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh An Giang phối hợp với Sở Tài chính triển khai gói tín dụng ưu đãi với mức lãi suất ổn định dưới 4,8%/năm, kéo dài thời hạn cho vay lên 20-25 năm; đồng thời thí điểm thành lập Quỹ Tiết kiệm Nhà ở địa phương nhằm huy động nguồn đóng góp tự nguyện từ người lao động với mục tiêu giải ngân trên 500 tỷ đồng trong giai đoạn 2021-2025.

Thứ ba, cải cách triệt để thủ tục hành chính và cơ chế ưu đãi đầu tư: Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quy chế liên thông một cửa rút ngắn tối thiểu 50% thời gian thẩm định, cấp phép xây dựng các dự án an sinh xuống dưới 45 ngày làm việc; áp dụng cơ chế miễn 100% tiền sử dụng đất, giảm 50% thuế suất thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp cho các nhà đầu tư cam kết đúng tiến độ.

Thứ tư, tăng cường trách nhiệm giải trình và ứng dụng chuyển đổi số trong giám sát: Sở Xây dựng phối hợp Ủy ban nhân dân 11 huyện, thị xã, thành phố xây dựng cổng thông tin quản lý nhà ở xã hội trực tuyến, công khai 100% danh sách đối tượng đăng ký và xét duyệt, đảm bảo phân phối minh bạch, ngăn chặn tình trạng trục lợi chính sách và sang nhượng trái phép.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, Sở Xây dựng, Sở Tài chính và Sở Kế hoạch và Đầu tư có thể trực tiếp ứng dụng các kết quả nghiên cứu và hệ thống chỉ tiêu định lượng để xây dựng Chương trình phát triển nhà ở tỉnh An Giang giai đoạn 2021-2030 tầm nhìn đến năm 2045.

Thứ hai, các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh bất động sản và tổ chức phát triển nhà ở: Luận văn cung cấp bức tranh chi tiết về cơ chế ưu đãi thuế, quy trình tiếp cận quỹ đất 20% sạch và nhu cầu thực tế của phân khúc người thu nhập thấp, giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chiến lược đầu tư với mức sinh lời an toàn.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Chính sách công, Quản lý công và Kinh tế phát triển: Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao về phương pháp luận phân tích chu trình chính sách, kỹ thuật xử lý dữ liệu tổng điều tra dân số và bài học kinh nghiệm quốc tế từ Singapore, Đức và Trung Quốc.

Thứ tư, Ban Quản lý các Khu công nghiệp và Liên đoàn Lao động tỉnh An Giang: Các đơn vị có thể khai thác số liệu thực trạng về hơn 40.000 công nhân tại 2 khu công nghiệp và 8 cụm công nghiệp để xây dựng đề án thiết chế công đoàn và các khu lưu trú giá rẻ cho người lao động.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vấn đề cốt lõi nhất cản trở việc phát triển nhà ở xã hội tại An Giang trong giai đoạn 2015-2020 là gì?

Rào cản lớn nhất nằm ở sự thiếu hụt quỹ đất sạch có hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh và cơ chế ưu đãi tài chính chưa đủ hấp dẫn. Các doanh nghiệp tư nhân phải đối mặt với mức lợi nhuận khống chế 10% trong khi thời gian hoàn tất thủ tục pháp lý kéo dài, khiến tỷ lệ nhà chung cư xã hội chỉ đạt vỏn vẹn 0,1% trên tổng quỹ nhà toàn tỉnh.

  1. Thu nhập bình quân của người dân An Giang ảnh hưởng như thế nào đến khả năng tạo lập nhà ở?

Khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và 20% nghèo nhất đã tăng từ 5,62 lần năm 2016 lên 5,84 lần năm 2019. Với giá nhà đất cao gấp 25 lần thu nhập hàng năm, nếu vay ngân hàng thương mại lãi suất 12%/năm thì mức trả nợ hàng tháng chiếm tới 6 lần thu nhập của hộ nghèo, khiến việc tự mua nhà thương mại là bất khả thi.

  1. Kinh nghiệm quốc tế nào từ luận văn có tính khả thi cao nhất khi áp dụng vào An Giang?

Mô hình Quỹ Tiết kiệm Nhà ở Trung ương của Singapore và chính sách tiết kiệm bắt buộc phát triển nhà ở của Trung Quốc là bài học phù hợp nhất. Việc người lao động và chủ sử dụng cùng trích đóng góp hàng tháng kết hợp vốn vay lãi suất thấp cố định 20-25 năm sẽ giải quyết căn bản bài toán tài chính cho người thu nhập thấp.

  1. Doanh nghiệp đầu tư nhà ở xã hội tại địa phương được hưởng những ưu đãi cụ thể nào?

Theo khung pháp lý phân tích trong luận văn, chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội được miễn 100% tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; được giảm 50% thuế suất thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp; đồng thời được hỗ trợ kinh phí đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào dự án từ ngân sách địa phương.

  1. Làm thế nào để đảm bảo tính minh bạch và tránh trục lợi trong xét duyệt đối tượng mua nhà ở xã hội?

Giải pháp then chốt là số hóa toàn bộ quy trình xét duyệt thông qua cổng thông tin điện tử công khai 100% hồ sơ thụ hưởng theo các tiêu chí khắt khe của Luật Nhà ở năm 2014. Đồng thời, các cơ quan thanh tra cần thiết lập quy chế thu hồi căn hộ nếu người mua không dọn vào ở sau 3 tháng hoặc thực hiện chuyển nhượng trái phép.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện khung lý thuyết chu trình chính sách công và đánh giá sâu sắc thực trạng thực thi chính sách phát triển nhà ở xã hội trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2015-2020.
  • Phát hiện rõ sự chênh lệch lớn về điều kiện ở khi tỷ lệ nhà chung cư xã hội chỉ chiếm 0,1%, trong khi giá bất động sản cao gấp 25 lần thu nhập trung bình của người dân.
  • Khẳng định tính cấp thiết của việc áp dụng mô hình Quỹ Tiết kiệm Nhà ở và quy chế dành tối thiểu 20% quỹ đất sạch trong các khu đô thị để xây dựng nhà ở an sinh.
  • Cung cấp gói 4 giải pháp đồng bộ về thể chế, tài chính tín dụng lãi suất 4,8%/năm, cải cách hành chính giảm 50% thời gian cấp phép và ứng dụng số hóa quản lý giai đoạn 2021-2025.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoạch định chính sách an sinh, nâng diện tích nhà ở bình quân toàn tỉnh đạt trên 20 m2/người và bảo đảm phúc lợi xã hội bền vững.

Các cơ quan quản lý và các nhà đầu tư quan tâm đến mô hình phát triển đô thị an sinh bền vững tại Đồng bằng sông Cửu Long hãy khai thác ngay nguồn tư liệu thực chứng quý giá từ luận văn thạc sĩ này để hoàn thiện chiến lược phát triển nhà ở giai đoạn 2021-2030.