CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG PHÒNG HỘ 1. Rừng phòng hộ, BV& PT rừng phòng hộ 1. Rừng phòng hộ Khái niệm về rừng được đề cập trong LLN năm 2017 như sau: “ Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên [18]” Rừng phòng hộ gồm những rừng có sẵn trong tự nhiên, chủ yếu là rừng hỗn giao gồm nhiều tầng, không đều tuổi, mật độ dày, có rễ sâu, bền, chắc; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay là rừng phòng hộ ven biển được thành lập với mục đích chống gió hạn, cát bay, ngăn chặn sự xâm mặn của biển; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển là rừng phòng hộ ven biển được thành lập với mục đích chống sóng lấn biển, chống sạt lở, bảo vệ các công trình ven biển; rừng phòng hộ BVMT nhằm mục đích điều hòa khí hậu, chống ÔNMT trong các KDC, KĐT và KDL [19, tr.34] Với tính chất quan trọng như trên thì rừng phòng hộ được phân theo mức độ xung yếu bao gồm [19, tr.24]: - Rừng phòng hộ đầu nguồn. Rừng phòng hộ đầu nguồn nhằm tăng cường khả năng điều tiết nguồn nước cho các dòng chảy, hồ chứa nước, hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn, bảo vệ đất, hạn chế bồi lấp các lòng hồ và khu vực hạ du.
Diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn gồm diện tích rừng và đất lâm nghiệp quy hoạch theo quy định của Nhà nước nhằm mục đích chủ yếu là BV& PT rừng phòng hộ đầu nguồn. Quy mô của rừng phòng hộ đầu nguồn phù hợp với quy mô 8 của lưu vực sông, hồ và việc QL về rừng phòng hộ đầu nguồn gắn với công tác quản lý tổng hợp lưu vực sông, hồ [13, tr. - Rừng bảo vệ nguồn nước của cộng đồng dân là khu rừng trực tiếp cung cấp nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất của CĐDC tại chỗ; gắn với phong tục, tập quán và truyền thống tốt đẹp của cộng đồng, được cộng đồng bảo vệ và sử dụng. - Rừng phòng hộ biên giới là khu rừng phòng hộ nằm trong khu vực vành đai biên giới, gắn với các điểm trọng yếu về quốc phòng, an ninh, được thành lập theo đề nghị của cơ quan quản lý biên giới.
- Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay. Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay nhằm giảm cường độ gió, chắn cát di động, bảo vệ sản xuất nông nghiệp, bảo vệ các KDC, KĐT, vùng sản xuất và các công trình khác; Diện tích rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay gồm diện tích rừng và đất lâm nghiệp quy hoạch theo quy định của Nhà nước nhằm mục đích chủ yếu là BV& PT rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay. - Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển. Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển nhằm ngăn cản sóng, chống sạt lở, bảo vệ đê và các công trình ven biển, ven sông, duy trì diễn thế tự nhiên của hệ sinh thái.
Diện tích rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển gồm diện tích rừng và đất lâm nghiệp quy hoạch theo quy định của Nhà nước nhằm mục đích chủ yếu là BV& PT rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển Theo quy định hiện hành (Điều 7, NĐ 156/2018/NĐ-CP), để được coi là khu rừng phòng hộ thì phải đáp ứng các điều kiện sau [3]: * Rừng phòng hộ đầu nguồn là rừng thuộc lưu vực của sông, hồ, đáp ứng các tiêu chí sau đây: - Về địa hình: có địa hình đồi, núi và độ dốc từ 15 độ trở lên; - Về lượng mưa: có lượng mưa bình quân hằng năm từ 2.000 mm trở lên hoặc từ 1.000 mm trở lên nhưng tập trung trong 2 - 3 tháng; 9 - Về thành phần cơ giới và độ dày tầng đất: loại đất cát hoặc cát pha trung bình hay mỏng, có độ dày tầng đất dưới 70 cm; nếu là đất thịt nhẹ hoặc trung bình, độ dày tầng đất dưới 30 cm. * Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay đáp ứng các tiêu chí sau đây: - Đai rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay giáp bờ biển: đối với vùng bờ biển bị xói lở, chiều rộng của đai rừng tối thiểu là 300 m tính từ đường mực nước ứng với thủy triều cao nhất hằng năm vào trong đất liền; đối với vùng bờ biển không bị xói lở, chiều rộng của đai rừng tối thiểu là 200 m tính từ đường mực nước ứng với thủy triều cao nhất hằng năm vào trong đất liền; - Đai rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay phía sau đai rừng: chiều rộng của đai rừng tối thiểu là 40 m trong trường hợp vùng cát có diện tích từ 100 ha trở lên hoặc vùng cát di động hoặc vùng cát có độ dốc từ 25 độ trở lên. Chiều rộng của đai rừng tối thiểu là 30 m trong trường hợp vùng cát có diện tích dưới 100 ha hoặc vùng cát ổn định hoặc vùng cát có độ dốc dưới 25 độ. * Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển đáp ứng các tiêu chí sau đây: - Đối với vùng bờ biển bồi tụ hoặc ổn định, chiều rộng của đai rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển từ 300 m đến 1.000 m tùy theo từng vùng sinh thái; - Đối với vùng bờ biển bị xói lở, chiều rộng tối thiểu của đai rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển là 150 m; - Đối với vùng cửa sông, chiều rộng của đai rừng phòng hộ chắn sóng lấn biển tối thiểu là 20 m tính từ chân đê và có ít nhất từ 3 hàng cây trở lên; - Đối với vùng đầm phá ven biển, chiều rộng tối thiểu của đai rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển ở nơi có đê là 100 m, nơi không có đê là 250 m.
BV& PT rừng phòng hộ Rừng phòng hộ có vai trò quan trọng đặc biệt đối với môi trường sống và phát triển KT& XH, là: (i) công cụ góp phần giảm lũ, tăng lưu lượng kiệt của sông suối; (ii) làm chức năng chắn sóng, chắn gió và cát bay, bảo vệ cho đê biển, chống sự xâm nhập của cồn cát vào đồng ruộng; (iii) làm chức năng điều hòa khí hậu, làm sạch môi trường sinh 10 thái; (iv) là kho dự trữ và bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái của quốc gia, là ngân hàng bảo vệ các nguồn gen các loài động thực vật, bảo vệ đa dạng sinh học [38]. Do đó, BV& PT rừng phòng hộ trở thành mục tiêu “chiến lược” trong quá trình xây dựng và hoạch định chính sách về BVMT bền vững của tất cả các quốc gia trên thế giới. Đã có nhiều quan niệm khác nhau về BV& PT rừng. Lê Văn Từ thì “BV& PT rừng” là tổng thể các hoạt động của tổ chức và cá nhân tác động vào rừng nhằm phòng, chống những tác động tiêu cực đến rừng để duy trì và phát triển hệ sinh thái rừng, sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác; bảo tồn đa dạng sinh học và giữ gìn cảnh quan môi trường sinh thái, đồng thời thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động vào rừng để nâng cao diện tích và chất lượng rừng, tính giá trị đa dạng sinh học, khả năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và các giá trị khác của rừng thông qua việc trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khi khai thác, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng nghèo [20, tr.
Có thể đồng tình với các định nghĩa sau: BV&PT rừng là thực hiện việc bảo vệ và kiểm soát một cách có hiệu quả tình trạng suy thoái rừng trên phạm vi cả nuớc, trong đó quy định cụ thể nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khi khai thác sử dụng từngloại rừng; và Phát triển rừng là tổng hợp các biện pháp tổ chức, kinh tế để đẩy mạnh sản xuất sản phẩm rừng nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu xã hội, yêu cầu thị trường trên cơ sở sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và đạt hiệu quả kinh tế cao [5, tr. Thực tiễn cho thấy, BV& PT rừng phòng hộ có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với môi trường sống và phát triển KT& XH. Cụ thể: - BV& PT rừng phòng hộ giữa vai trò là nhân tố quan trọng bảo vệ tài nguyên nước. Nước mưa rơi xuống vùng có rừng bị giữ lại nhiều hơn trong tán cây và trong đất, do đó lượng dòng chảy do mưa trong mùa lũgiảm đi.
Rừng cản không cho dòng chảy mặt chảy quá nhanh, làm cho lũ xuất hiện chậm hơn, giảm mức độ đột ngột và ác liệt của từng trận lũ. Nước thấm xuống đất rừng vừa là nguồn dự trữ nuôi cây và các sinh vật sống trong đất, vừa chảy rất chậm về nuôi các sông trong thời gian không mưa [7, tr.67]; 11 - BV& PT rừng phòng hộ góp phần làm sạch không khí, giữ cho môi trường sống của con người được trong lành là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức khỏe tốt cho con người. Rừng là lá phổi xanh của trái đất. Cây xanh, trong quá trình quang hợp, hấp thụ cacbonnic và nhả ra khí ôxy cần thiết cho sự sống.
Rừng có tác dụng làm trong sạch không khí. Tán lá cản và giữ bụi. Lá cây tiết ra nhiều loại chất kháng khuẩn có tác dụng tiêu diệt vi trùng và gây bệnh trong không khí; - BV& PT rừng phòng hộ sẽ được bảo đảm thực hiện chính sách phát triển KT&XH, AN&QP, tình hình TTATXH tại ĐP được bảo đảm. Đặc biệt, BV& PT rừng phòng hộ có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội ở khu vực biên giới.
Khi BV& PT rừng phòng hộ được thực hiện đúng đắn, đầy đủ, quy định của pháp luật, chính sách được thực hiện nghiêm túc thì xã hội sẽ ổn định, tạo điều kiện cho phát triển KT&XH, AN&QP, tình hình TTATXH được giữ vững. Ngược lại, khi BV& PT rừng phòng hộ không được thực hiện đúng đắn, đầy đủ trên tất cả các hình thức thì TN rừng bị xâm hạ, tình hình TTATXH vùng núi mất ổn định [5, tr. Chính sách công, thực hiện chính sách BV& PT rừng phòng hộ GS. Kraft and Furlong (2004) quan niệm: “Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng.