CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CẤP QUẬN 1. Kinh tế và phát triển kinh tế 1. Kinh tế Theo ngôn ngữ Hán - Việt, kinh tế được hiểu theo nghĩa “Kinh bang tế thế”, kinh bang có nghĩa là trị nước và tế thế có nghĩa là cứu đời.
Hay còn có thể hiểu theo nghĩa đó là công việc mà một vị vua phảm đảm nhiệm, đó là: chăm lo đời sống vật chất của bề tôi, chăm lo đời sống tinh thần của những người dân đen con đỏ. Theo ông Adam Smith, cha đẻ của môn kinh tế, định nghĩa từ “kinh tế” trong cuốn sách nổi tiếng “Sự giàu có của các quốc gia” (Wealth of Nations) của ông là: Khoa học học gắn liền với những quy luật về sản xuất, phân phối và trao đổi. Ông cho rằng “sự giàu có” chỉ xuất hiện khi con người có thể sản xuất nhiều hơn với nguồn lực lượng lao động và tài nguyên sẵn có [1,Tr. Về định nghĩa từ kinh tế, xét theo bản chất, làm kinh tế là con người cố gắng thực hiện những công việc để sử dụng hiệu quả nguồn lực sẵn có của mình như: tiền, sức khỏe, tài năng thiên bẩm và nhiều tài nguyên khác, để tạo ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu nhân loại.
Từ đó tạo ra của cải vật chất cho chính mình. Hoạt động kinh tế là bất kì hoạt động nào mà sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có của mình để tạo ra những sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, đem trao đổi và thu được một giá trị lớn hơn cái mà mình đã bỏ ra. Như vậy, định nghĩa “kinh tế” vào thời mới khai sinh của môn khoa học này đơn giản là: “nghiên cứu về sự giàu có” Tuy nhiên, như trong bài viết về “Kinh tế tri thức ở Việt Nam”, của GS Hồ Tú Bảo, tạp chí Tia sáng đăng ngày 20/07/2010 có đưa ra quan điểm: “Theo một định nghĩa được thừa nhận rộng rãi, kinh tế là toàn bộ các hoạt động sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ của một cộng đồng hay một quốc gia” [4,Tr. 5 Trong xã hội hiện nay, khái niệm kinh tế vẫn chưa có một cách nhìn thống nhất, hay là một chuẩn mực nhất định.
Có thể hiểu một cách cơ bản rằng, kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và xã hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong một xã hội với một nguồn lực có hạn. Khái niệm kinh tế đề cập đến các hoạt động của con người có liên quan đến sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ. Nói cách khác, kinh tế có nghĩa là: “Dựa vào nguồn tài nguyên sẵn có và hạn hẹp,con người và xã hội loài người tìm cách trả lời 3 câu hỏi: Sản xuất cái gì ? Sản xuất như thế nào ? Sản xuất cho ai ?” 1. Phát triển kinh tế Phát triển kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng của đời sống kinh tế - xã hội.
Phát triển kinh tế bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây: Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế. Muốn phát triển các mặt của đời sống kinh tế - xã hội, trước hết xã hội phải có thêm của cải, tức là năng lực của nền sản xuất phải được mở rộng hay nền kinh tế phải tăng trưởng. Những nước có nền kinh tế phát triển trước hết nền kinh tế phải tăng trưởng với tốc độ cao trong thời gian dài. Cũng vì vậy, các nước nghèo, lạc hậu muốn tạo ra sự phát triển kinh tế phải coi tăng trưởng kinh tế là mục tiêu số 1 trong chiến lược kinh tế - xã hội của mình.
Tăng trưởng kinh tế được quan niệm là sự gia tăng về số lượng, chất lượng hàng hóa và dịch vụ, là kết quả của tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng bằng cách đầu tư thêm tư liệu sản xuất, sức lao động và theo chiều sâu bằng cách ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ, nâng cao tri thức, trình độ lành nghề, kỷ luật cho người lao động… Tăng trưởng kinh tế còn được quan niệm là sự gia tăng của thu nhập bình quân trên đầu người. Xét trên góc độ kinh tế, tăng trưởng kinh tế có tính hai mặt: lợi ích và chi phí. 6 Tăng trưởng kinh tế có rất nhiều lợi ích, là cơ sở, là điều kiện để cải thiện và nâng cao đời sống của dân cư. Tăng trưởng kinh tế là tiền đề quan trọng bậc nhất để phát triển các mặt khác của đời sống kinh tế - xã hội như: khoa học, giáo dục, y tế, thể dục thể thao… Do những lợi ích đó, tăng trưởng kinh tế là hết sức cần thiết với tất cả các quốc gia.
Với các nước nghèo, lạc hậu, tăng trưởng kinh tế càng quan trọng vì mức thu nhập, mức sống của dân cư rất thấp, nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội còn ở trình độ thấp, lạc hậu… Mặt thứ hai của tăng trưởng kinh tế là chi phí. Nền kinh tế tăng trưởng càng nhanh, nhu cầu khai thác và sử dụng tài nguyên càng lớn và vì vậy tài nguyên càng sớm bị cạn kiệt, môi trường càng bị tổn hại, ô nhiễm. Nền kinh tế tăng trưởng càng nhanh, càng làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội như: phân hóa giàu nghèo, sự phát triển của các loại tội phạm và tệ nạn xã hội… Nền kinh tế tăng trưởng càng nhanh, chi phí càng lớn. Thứ hai, cơ cấu kinh tế theo ngành thay đổi theo hướng tiến bộ.
Theo cách phân chia hiện đại, nền kinh tế gồm ba khu vực: khu vực I bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và khai khoáng; khu vực II gồm có công nghiệp và xây dựng; khu vực III là khu vực dịch vụ bao gồm các ngành như ngân hàng, bảo hiểm, thương mại, giao thông vận tải, thông tin bưu điện… Khu vực I có hai đặc điểm: phụ thuộc nặng nề vào tự nhiên; năng suất lao động và hiệu quả kinh tế thấp. Do đó, trong cơ cấu các ngành kinh tế, khu vực I càng chiếm tỷ lệ lớn, khu vực II và III càng chiếm tỷ lệ nhỏ thì nền kinh tế càng phụ thuộc vào tự nhiên, năng suất lao động và hiệu quả của nền sản xuất xã hội càng thấp. Và ngược lại, khu vực I chiếm tỷ lệ càng nhỏ… nền kinh tế càng ít phụ thuộc vào tự nhiên, năng suất lao động và hiệu quả của nền sản xuất xã hội càng cao. Bởi vậy, cơ cấu kinh tế theo ngành thay đổi theo hướng: khu vực I giảm về tỷ lệ, khu vực II và III tăng về tỷ lệ được coi là tiến bộ và sự thay đổi đó là một nội dung của phát triển kinh tế.
Thứ ba, những tiến bộ kinh tế chủ yếu phải xuất phát từ động lực nội 7 tại. Nền kinh tế tăng trưởng, cơ cấu các ngành kinh tế thay đổi tiến bộ chủ yếu phải do các nguyên nhân bên trong, do các nguồn lực trong nước. Do vậy, việc đề cao nội lực là cần thiết và đúng đắn. Thứ tư, chất lượng cuộc sống của dân cư không ngừng được nâng cao, người dân phải được thụ hưởng những thành quả của tăng trưởng kinh tế.
Chất lượng cuộc sống được thể hiện ở mức thu nhập; tuổi thọ; mức độ thụ hưởng các dịch vụ văn hóa, y tế, giáo dục; cơ hội lựa chọn trong việc thoả mãn các nhu cầu; sự đảm bảo về an ninh… Như vậy, khái niệm phát triển kinh tế có nội dung rộng hơn khái niệm tăng trưởng kinh tế. Nếu tăng trưởng kinh tế mới chỉ đề cập tới những thay đổi về lượng của nền kinh tế thì phát triển kinh tế không những đề cập tới những thay đổi về lượng, mà còn bao hàm cả những thay đổi về chất. Quận và phát triển kinh tế quận 1. Đơn vị cấp quận Cơ cấu hành chính nhà nước qua các lần sửa đổi Hiến pháp đều khẳng định sự tồn tại cấp quận, cấp phường.
Hiến pháp năm 1980: "Các đơn vị hành chính của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương. Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã. Huyện chia thành xã và thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường". Hiến pháp năm 1992: "Các đơn vị hành chính của Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; Thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã; Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường".
Hiến pháp năm 2013: “Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau:Nước chia thành tỉnh, thành phố 8 trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường [18]. Đó là cơ sở pháp lý của sự tồn tại cấp quận, huyện và cấp xã, phường ở nước ta, đồng thời cũng luôn đặt cấp quận, huyện và cấp xã, phường trong sự ràng buộc của hệ thống đơn vị hành chính quốc gia (sơ đồ 1). Mặt khác, trong thực tế đời sống xã hội ở nước ta, cấp quận, huyện đã được các tầng lớp nhân dân, các thế hệ nối tiếp nhau thừa nhận, cấp quận, huyện đã đi vào tiềm thức của nhân dân. Tuy nhiên, do có sự nhận thức khác nhau về tầm vóc cấp quận, huyện nên đã xuất hiện những nhu cầu nhập quận, huyện, tách quận, huyện ở các thời kỳ khác nhau, hoặc là do có sự nhận thức khác nhau về tầm quan trọng của cấp quận, huyện mà đã dẫn đến việc có thời được đặc biệt quan tâm giao cho quận, huyện nhiều chức năng nhiệm vụ, lại có thời kỳ ít chú ý cấp quận, huyện, tập trung xây dựng tỉnh và cấp xã, phường.
Trải qua quá trình thực tế đã cho chúng ta nhiều thành công và cũng không ít thất bại. Thực tế qua chọn lọc cho thấy cấp quận, huyện với tầm vực như hiện nay là hợp lý và cấp quận, huyện vẫn tồn tại cùng với yêu cầu cần thiết về chức năng nhiệm vụ của nó.