CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG DÂN TRONG LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ 1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung quyền công dân trong lĩnh vực chính trị 1. Khái niệm quyền công dân trong lĩnh vực chính trị Thuật ngữ “chính trị “ có nguồn gốc La-tinh là “politis” mang nghĩa công việc nhà nước. Cụ thể hơn, chính trị được hiểu là “toàn bộ các hoạt động liên quan đến những mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc và những tầng lớp trong xã hội, mà ở đó cốt lõi là vấn đề giành lấy chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, đó còn là sự tham gia vào công việc của nhà nước, sự xác định hình thức tổ chức, nội dung, nhiệm vụ hoạt động của nhà nước" [15, tr.
Các quyền hiến định của công dân về chính trị nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích, đòi hỏi hợp pháp về tự do tư tưởng, chính trị, hoạt động chính trị và các giao lưu chính trị để phục vụ cho việc thực hiện quyền làm chủ về chính trị của công dân; góp phần củng cố, bảo vệ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Quyền công dân và quyền con người là hai phạm trù rất gần gũi song giữa chúng là không đồng nhất. Vì quyền công dân (citizen’s rights) là một khái niệm xuất hiện cùng cách mạng tư sản. Cách mạng tư sản đã giúp con người từ địa vị thần dân trở thành các công dân (có tư cách là các thành viên xã hội bình đẳng trong một nhà nước) và những quyền tự nhiên của con người được pháp điển hóa dưới hình thức quyền công dân.
Như vậy, về bản chất, các quyền công dân chính là những quyền con người được các nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân của mình [20, tr. 6 Khái niệm công dân được dùng để chỉ mối liên hệ giữa cá nhân và Nhà nước. Có thể định nghĩa rằng: “Công dân là những cá nhân được mang quốc tịch của một nhà nước”. Khái niệm công dân được gắn liền với khái niệm quốc tịch.
Người là công dân của Nhà nước nào thì có quốc tịch của nước đó. "Công dân nước Cộng hoà XHCN Việt Nam chính là người có quốc tịch Việt Nam" (Điều 49 của Hiến pháp năm 2013). Từ những phân tích trên, ta có thể hiểu thuật ngữ quyền công dân dưới hai phương diện theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau: - Theo nghĩa rộng: Quyền công dân được hiểu là quyền con người giới hạn trong phạm vi các đặc tính xã hội của con người và trong phạm vi một quốc gia, một chế độ chính trị trong đó con người có mối quan hệ gắn bó bằng quốc tịch [19, tr. Theo nghĩa hẹp: Quyền công dân là các quyền cụ thể của con người được pháp luật của một quốc gia mà người đó có quốc tịch ghi nhận và bảo đảm thực hiện [16, tr.
Như vậy, quyền công dân trong lĩnh vực chính trị và quyền con người trong lĩnh vực chính trị là hai phạm trù khác nhau, song có mối liên hệ rất chặt chẽ, tác động, bổ sung lẫn nhau. Thực tế cho thấy sự gắn bó giữa quyền con người trong lĩnh vực chính trị và quyền công dân trong lĩnh vực chính trị ngày càng trở lên mật thiết, đến nỗi trong một số trường hợp rất khó phân biệt và trong một số bối cảnh không cần thiết phải phân biệt giữa chúng. Sự tương đồng kể trên khiến cho những nỗ lực thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực chính trị, quyền công dân trong lĩnh vực chính trị trở nên khăng khít, không thể tách rời, kể cả khi những nỗ lực này gắn liền với những chủ thể tượng đối khác nhau [38, tr. Mặc dù vậy, do những khác biệt nhất định về tính chất, đối tượng và phạm vi điều chỉnh, quyền con người trong lĩnh vực chính trị và quyền công 7 dân trong lĩnh vực chính trị vẫn sẽ phát triển theo hai “kênh” khác nhau mà sẽ không bao giờ hoà nhập hoàn toàn, trừ khi xã hội loài người không còn nhà nước.
Vậy quyền công dân trong lĩnh vực chính trị là quyền của người mang quốc tịch một quốc gia trong lĩnh vực chính trị như tham gia quản lý nhà nước, giám sát xã hội, tham gia vào bộ máy quyền lực nhà nước. Đó là các quyền tự do bầu cử, ứng cử, quyền khiếu nại, tố cáo, giám sát xã hội; tham gia đóng góp ý kiến nhằm phản biện chính sách của Nhà nước. Quyền công dân trong lĩnh vực chính trị thường được Hiến pháp ghi nhận. Đặc điểm quyền công dân trong lĩnh vực chính trị Vấn đề về quyền con người và quyền công dân luôn là mối quan tâm của toàn nhân loại ở từng thời kỳ phát triển của nó, bằng chứng là các bản tuyên ngôn của các quốc gia phát triển nhất trên thế giới như Mỹ, Pháp đều đề cập đến vấn đề này từ Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của nước Pháp; Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 cũng như trong hai công ước quốc tế về quyền con người năm 1966.
Ở Việt Nam quyền công dân phát triển gắn liền với lịch sử lập hiến nước nhà. Nó được thể hiện một cách nhất quán trong các bản Hiến pháp, ghi nhận các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam. Đất nước ngày càng phát triển, nhân quyền và dân quyền cũng ngày một được mở rộng thể hiện sự tôn trọng của Nhà nước với quyền lợi của Nhân dân, nâng cao niềm tin của Nhân dân với đất nước. Sự quản lý của Nhà nước không nhằm hạn chế các quyền và tự do của con người mà mong muốn phát triển hoàn thiện hơn các quyền con người mà nhân dân Việt Nam đáng được hưởng đã ghi nhận trong các công ước quốc tế.
Quyền công dân trong lĩnh vực chính trị có các đặc điểm đó là: 8 - Một là, quyền công dân trong lĩnh vực chính trị thể hiện một phần nội dung quyền con người, nhằm vào sự nỗ lực thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực chính trị. Cụ thể đó là, các quyền tự do bầu cử, ứng cử, quyền khiếu nại, tố cáo, giám sát xã hội; tham gia đóng góp ý kiến để phản biện chính sách của Nhà nước. - Hai là, quyền công dân trong lĩnh vực chính trị chỉ được áp dụng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và có thể bị thay đổi theo thời gian, chúng được ghi nhận bằng pháp luật của một quốc gia xác định và được Nhà nước của quốc gia đó bảo đảm thực hiện. - Ba là, quyền công dân trong lĩnh vực chính trị được thể hiện trong mối quan hệ giữa cá nhân với quốc gia; nói cách khác, chủ thể của quyền công dân trong lĩnh vực chính trị gắn liền với vấn đề về quốc tịch của một quốc gia.
Nội dung quyền công dân trong lĩnh vực chính trị Thứ nhất, quyền bầu cử, ứng cử và quyền tham gia công việc quản lý nhà nước và xã hội: Quyền bầu cử, ứng cử và quyền tham gia công việc quản lý nhà nước và xã hội là quyền cơ bản của công dân về lĩnh vực chính trị được ghi nhận trong đạo luật cơ bản của Nhà nước. Với quyền bầu cử theo luật định là khả năng của công dân thực hiện quyền lựa chọn người đại biểu của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước. Quyền bầu cử của công dân gồm có: đề cử, chủ động giới thiệu người ứng cử và bỏ phiếu. Quyền ứng cử theo luật định là việc công dân có đủ điều kiện thể hiện nguyện vọng của mình được ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu HĐND.
Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa XHCN Việt Nam có đủ từ 18 tuổi trở lên là có quyền bầu cử và có đủ từ 21 tuổi trở lên là có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND. 9 Bên cạnh, quyền bầu cử và ứng cử, thì quyền tham gia công việc quản lý nhà nước và xã hội được công dân thực hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bao gồm hoạt động của công dân tham gia quản lý, tổ chức và xây dựng chính quyền nhà nước, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với các cơ quan nhà nước, biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý. Công dân còn tham gia quản lý nhà nước và xã hội thông qua hoạt động của các tổ chức xã hội, đoàn thể như thông qua mặt trận, công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ. Theo đó, nhà nước bảo đảm cho công dân có quyền tham gia trực tiếp hay gián tiếp (dân chủ đại diện) vào công việc quản lý nhà nước và xã hội.
Nhóm quyền này quy định khả năng của công dân tham gia vào các hoạt động của Nhà nước, của xã hội, thể hiện vai trò làm chủ của nhân dân về chính trị. Về cơ bản, các quyền bầu cử, ứng cử và quyền tham gia công việc quản lý nhà nước và xã hội được quy định tại các Điều 27, 28, 29 trong Hiến pháp năm 2013. Với điều kiện là công dân có đủ từ 18 tuổi trở lên mới có quyền bầu cử và có đủ từ 21 tuổi trở lên mới có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND các cấp. Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội bằng cách tham gia trực tiếp vào bộ máy quản lý nhà nước cũng như thông qua hoạt động giám sát xã hội bằng cách phản biện, khiếu nại, tố cáo.
Công dân có quyền biểu quyết một khi nhà nước tiến hành tổ chức trưng cầu dân ý. Thứ hai, các quyền khác liên quan trong lĩnh vực chính trị như: Quyền tự do ngôn luận, báo chí; quyền tiếp cận thông tin: Theo Điều 25 Hiến pháp năm 2013, công dân có quyền tự do ngôn luận, tiếp cận thông tin, tự do báo chí. Thông qua quyền tiếp cận thông tin mà mọi công dân có thể tiếp cận được những thông tin gồm cả thông tin về quyền của mình và về hoạt động tư pháp, nhằm thụ hưởng đầy đủ và bảo vệ những quyền của mình theo Hiến pháp và luật định. 10 Quyền tự do hội họp, lập hội, biểu tình: Những quyền này đã được quy định trong Hiến pháp và một số văn bản quy phạm pháp luật khác.
Với nước ta, quyền này được quy định tại Điều 25 của Hiến pháp 2013. Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo: Tại Điều 24 của Hiến pháp 2013 đã quy định: Mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo, không theo hoặc theo một tôn giáo nào. Những tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.