Đặt vấn đề Chăn nuôi là một ngành truyền thống có từ lâu đời ở nước ta. Hiện nay, chăn nuôi ngày càng phát triển mạnh cả về chất lượng và số lượng do tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng được đẩy mạnh để hội nhập với kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, chăn nuôi với quy mô trang trại đã được mở rộng theo khuynh hướng nuôi gia công cho doanh nghiệp nước ngoài để tận dụng nguồn giống, kỹ thuật, và áp dụng quy trình kỹ thuật công nghệ cao. Đồng thời, để đáp ứng mục tiêu hướng tới của thế kỷ XXI là sản xuất nguồn “thịt sạch” đảm bảo cho sức khỏe người tiêu dùng.
Cho nên, một số công ty đã chú trọng sản xuất các loại sản phẩm chế phẩm sinh học để phòng trị bệnh và kích thích khả năng sinh trưởng, sinh sản cho vật nuôi vừa an toàn lại hiệu quả cao. Một trong những chế phẩm sinh học đó là chế phẩm ADE-Selplex được công ty TNHH thuốc thú y Việt Nam (Pharmavet Co. Ltd) sản xuất năm 2013. Do chế phẩm sinh học vẫn là một sản phẩm mới chưa thực sự tạo được lòng tin đối với người chăn nuôi, nên để giải quyết vấn đề này, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học ADE Selplex đến khả năng sinh trưởng và kháng bệnh của lợn ngoại nuôi thịt, tại xã Minh Tân - huyện Thủy Nguyên - Hải Phòng”, nhằm chứng minh cho người chăn nuôi thấy chế phẩm sinh học có nhiều tác dụng và an toàn vệ sinh thực phẩm.
Mục đích của đề tài - Xác định được ảnh hưởng của chế phẩm sinh học ADE- Selplex đến khả năng sinh trưởng của lợn ngoại nuôi thịt - Xác định được ảnh hưởng của chế phẩm sinh học ADE- Selplex đến khả năng kháng bệnh của lợn ngoại giai đoạn từ cai sữa đến xuất bán. e 2 - Hiệu quả chăn nuôi lợn thịt có bổ sung chế phẩm ADE-Selplex. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Đóng góp thêm tư liệu khoa học về sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi lợn thịt.
Đề tài là tài liệu tham khảo cho sinh viên và các nhà khoa học trong các nghiên cứu tiếp theo. Ý nghĩa thực tiễn Nâng cao năng suất chăn nuôi, giảm thiểu việc sử dụng kháng sinh, góp phần phát triển chăn nuôi bền vững và vệ sinh an toàn thực phẩm. e 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Đặc điểm sinh trưởng của lợn giống ngoại nuôi thịt 2. Một số thông tin về giống lợn thí nghiệm Nguồn gốc và sự phân bố của lợn thịt dòng CP40 Trong chăn nuôi công nghiệp việc xác định công thức lai tốt, phù hợp với điều kiện chăn nuôi của từng vùng là rất cần thiết. Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam là công ty lớn trong lĩnh vực chăn nuôi lợn, có quy trình chăn nuôi hiện đại. Trong thời gian qua công ty đã tiến hành nhập và lai tạo thành công nhiều công thức lai và đưa các tổ hợp lai vào sử dụng trong chăn nuôi công nghiệp.
Điển hình là tổ hợp lai 3 máu ♀(♀Landrace x ♂Yorkshire) x ♂(♀Landrace x ♂Duroc) nuôi thịt thương phẩm. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái F1(♀Landrace x ♂Yorkshire), khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt của con lai 3 máu ♀(♀Landrace x ♂Yorkshire) x ♂(♀Landrace x ♂Duroc) một cách cụ thể và có hệ thống. CP40 đươc nuôi tại các trang trại gia công ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam. Đặc điểm ngoại hình Lợn CP40 có lông trắng, có con lông màu hung, đầu cổ hơi nhỏ và dài, vai - lưng - mông – đùi rất phát triển, mình dài, lưng hơi cong, bụng gọn, 4 chân dài chắc chắn.
Da của lợn CP40 có màu trắng, tuy nhiên thỉnh thoảng có một số nốt đen, hoặc có màu hung. Đặc điểm sinh trưởng Lợn CP40 có mức tăng khối lượng bình quân từ 650–750 gam/con/ngày; tiêu tốn thức ăn từ 2,55 kg/kg tăng khối lượng; tỉ lệ móc hàm 82,2%; tỉ lệ thịt xẻ 74,6%; tỉ lệ thịt nạc 59,3% (theo phòng Kỹ thuật công ty CP). Đặc điểm sinh trưởng của lợn nuôi thịt Khái niệm sinh trưởng Theo Chambers (1990) [3], sinh trưởng là quá trình sinh lý sinh hoá phức tạp duy trì từ phôi thai được hình thành đến khi con vật thành thục về tính. Như vậy, ngay từ khi còn là phôi thai, quá trình sinh trưởng đã được khởi động.
Johanson (1972) [11] đã đưa ra khái niệm: Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như là quá trình tổng hợp protein, cho nên người ta lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng. Tuy nhiên, cũng có khi tăng khối lượng không phải là sinh trưởng (ví dụ như có trường hợp tăng khối lượng chủ yếu là tăng mỡ và nước chứ không phải sự phát triển của mô cơ), sự sinh trưởng thực sự là sự tăng lên về khối lượng, chất lượng và các chiều của tế bào mô cơ, ông cho rằng cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng đến sự phát triển của con vật. Khi nghiên cứu về sinh trưởng, ta không thể không đề cập đến quá trình phát dục. Đây là quá trình thay đổi về chất, tức là tăng thêm, hoàn thiện thêm về tính chất, chức năng của các bộ phận cơ thể.
Phát dục diễn ra trong quá trình thay đổi về cấu tạo, chức năng, hình thái, kích thước các bộ phận cơ thể. Phát dục của cơ thể con vật là quá trình phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn từ khi trứng rụng tới khi trưởng thành, khi con vật trưởng thành quá trình sinh trưởng chậm lại, sự tăng sinh các tế bào ở các cơ quan, tổ chức không nhiều lắm, cơ thể to ra, béo thêm nhưng chủ yếu là tích luỹ mỡ, còn tích lũy cơ xem như ở trạng thái ổn định. Các quy luật sinh trưởng và phát dục của lợn. Gia súc trưởng thành không chỉ là sự phóng to của gia súc lúc sơ sinh.
Bởi vì trong quá trình phát triển, mỗi giai đoạn sinh trưởng và phát dục của gia súc phải tuân theo những quy luật nhất định: Quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều, quy luật sinh trưởng phát dục theo giai đoạn. e 5 − Quy luật sinh trưởng phát dục theo giai đoạn: Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [15], quá trình sinh trưởng và phát dục của lợn được chia làm hai giai đoạn: giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai. + Giai đoạn trong thai: Quá trình sinh trưởng trong thai là một phần quan trọng trong chu kỳ sống của lợn, bởi vì các sự kiện của thời kỳ này có ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và khả năng sinh sản của lợn. Quá trình phát triển trong thai được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn phôi thai, tiền thai và bào thai.
Giai đoạn phôi thai từ lúc trứng thụ tin đến 22 ngày, đặc điểm của giai đoạn này là hợp tử dịch chuyển và làm tổ ở sừng tử cung (trong vòng 2 ngày đầu tiên), phân chia nhanh chóng thành khối tế bào và các bào phôi. Giai đoạn tiền thai từ ngày 23 đến 39, hình thành nên hầu hết các cơ quan, bộ phận trong cơ thể. Giai đoạn thai từ ngày 40 đến đẻ là giai đoạn phát triển nhanh về kích thước và khối lượng của thai. + Giai đoạn ngoài thai được chia thành các thới kỳ bú sữa, thời kì thành thục, thời kỳ trưởng thành và thời kỳ già cỗi.
Lợn con mới sinh ra chưa thành thục về sinh lý và thể vóc, có rất nhiều sự thay đổi diễn ra trong thời kỳ đầu tiên sau khi sinh để phù hợp cho cuộc sống của nó sau nay. Có một số thay đổi và các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi đó như khối lượng sơ sinh và số con đẻ ra trên ổ, lượng đường Gulucoza trong máu, vấn đề điều tiết thân nhiệt, khả năng tiêu hóa và hấp thụ thức ăn, sự thay đổi về thành phần hóa học của cơ thể theo tuổi. đây là những sự thay đổi quan trọng trong những ngày đầu tiên của lợn sau khi sinh, cần phải được nghiên cứu đầy đủ và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng của lợn. Đối với lợn nái sinh sản chúng ta phải tìm cách để kéo dài thời kỳ trưởng thành để lợn có thể cho nhiều sản phẩm nhất.
- Quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều e 6 Không đồng đều về khả năng tăng khối lượng: lúc còn non khả năng tăng khối lượng chậm, sau đó tăng khối lượng nhanh dần, tùy theo các giống lợn khác nhau mà tốc độ tăng khối lượng khác nhau. Điều quan trọng nhất là các nhà chăn nuôi phải biết thời điểm lợn sinh trưởng nhanh nhất để kết thúc vỗ béo cho thích hợp, giảm giá thành sản phẩm chăn nuôi. Không đồng đều về sự phát triển của các cơ quan bộ phận cơ thể: trong quá trình sinh trưởng và phát dục của cơ thể lợn có những cơ quan phát triển nhanh, có những cơ quan phát triển chậm. Không đồng đều về sự tích lũy của các tổ chức mỡ, nạc, xương sự phát triển của bộ xương có xu hướng giảm dần theo tuổi (tính theo sinh trưởng tương đối); của thịt giữ mức độ bình thường trong giai đoạn đầu sau khi sinh sau đó giảm dần từ tháng thứ 5, sự tích lũy mỡ tăng dần từ tháng 6, 7.
Dựa vào quy luật này, các nhà chăn nuôi cần căn cứ vào mục đích chăn nuôi mà quyết định thời điểm giết mổ cho phù hợp để có thể đạt tỷ lệ nạc cao nhất. Các phương pháp đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn Sinh trưởng của lợn lần đầu tiên được Brody mô tả vào năm 1945 trên quan điểm của năng lượng dự trữ trong cơ thể so với đơn vị năng lượng ăn vào, ông cũng là người đưa ra đường cong sinh trưởng dạng hình chữ S. Việc đánh giá sinh trưởng của lợn được thể hiện dưới dạng tăng khối lượng của cơ thể, có thể tính dưới dạng sinh trưởng tuyệt đối (gam/ngày) hoặc sinh trưởng tương đối (%). Sinh trưởng tuyệt đối được tính theo công thức sau: KL cuối kỳ (g) - KL đầu kỳ(g) Sinh trưởng tuyệt đối (g/ngày) = Thời gian nuôi(ngày) Sinh trưởng tương đối được tính theo công thức sau: (KL cuối kỳ – KL đầu kỳ)×100 Sinh trưởng tương đối (%) = X100 (KL đầu kỳ + KL cuối kỳ)/2 e 7 2.